|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-5-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mai Thị Tiếp
2. Bà Nguyễn Thị Thưởng
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tình - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thiều Thị T, sinh năm 1999; địa chỉ: Phố T, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Thiều Quang H, sinh năm 1999; địa chỉ: Phố T, phường Đ, TP tỉnh Thanh Hóa. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Đ, phân trại số C, Trại giam S – Cục C – Bộ C1; Địa chỉ: thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thiều Thị T trình bày:
Về hôn nhân : Chị và anh Thiều Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện qua thời gian tìm hiểu, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là phường Đ), TP., tỉnh Thanh Hóa ngày 20/11/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại phố T, phường Đ, TP .. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H chơi bời, nợ nần, không chịu làm ăn, chị T và gia đình đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh H không thay đổi dẫn đến vợ chồng cãi và, xúc phạm có lần còn xảy ra đánh nhau. Ngày 04/3/2021 anh H bị bắt và bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam S. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng đã phai nhạt từ lâu, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thiều Quang H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Thiều Quốc B, sinh ngày 27/3/2019. Ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Quốc B và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 15/4/2025, bị đơn anh Thiều Quang H trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện qua thời gian tìm hiểu, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn vào ngày 20/11/2019 tại UBND phường Đ, TP .. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng với gia đình anh H. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đến tháng 3 năm 2021 anh H bị bắt và bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Nay chị T xin ly hôn anh đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Thiều Quốc B, sinh ngày 27/3/2019. Vợ chồng ly hôn anh H đồng ý giao cháu Thiều Quốc B cho chị T nuôi dưỡng và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ do địa phương cung cấp thể hiện: Chị T và anh H kết hôn với nhau năm 2019, có tổ chức kết hôn theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ. Trong cuộc sống anh chị có mâu thuẫn nhưng cũng không thể hiện ra ngoài nhiều nên địa phương không nắm bắt được. Hiện nay anh H đang chấp hành án tại Đội 16, phân trại số C, Trại giam S, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Việc chị T có đơn ly hôn anh H quan điểm của địa phương đề nghị hòa giải cho anh chị quay về đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Nếu chị T cương quyết ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: anh, chị có 01 con chung là Thiều Quốc B, sinh ngày 27/3/2019. Nếu anh chị ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản, công nợ: chính quyền địa phương không biết anh chị có tài sản và công nợ gì.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xét xử vắng và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đề nghị hòa giải, bị đơn vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp tiếp cận công khai cứng cứ và hòa giải, các buổi làm việc và xét xử của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trình bày ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng thủ tục tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Các Điều 227; 228 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thiều Thị T được ly hôn anh Thiều Quang H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Thiều Quốc B, sinh ngày 27/3/2019. Ly hôn giao cháu Quốc B cho chị T nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ: Các đương sự thống nhất không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Chị Thiều Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn chị Thiều Thị T và bị đơn anh Thiều Quang H là Tranh chấp về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn có địa chỉ tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được tống đạt hợp lệ, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và các buổi làm việc tại Tòa án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; 228 BLTTDS để giải quyết vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
* Về hôn nhân: Chị Thiều Thị T và anh Thiều Quang H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sau đó anh H bị bắt và hiện nay đang chấp hành án phạt tù tại Đ, phân trại số C, Trại giam S – Cục C - Bộ C1. Quá trình giải quyết vụ án, anh chị đều thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã kéo dài, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận chị T được ly hôn anh H là phù hợp theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
* Về con: Anh, chị thống nhất vợ chồng có 01 con chung là Thiều Quốc B, sinh ngày 27/3/2019. Ly hôn giao cháu Quốc B cho chị T nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét sự tự nguyện của anh chị là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
* Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
* Về công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chị Thiều Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 51; 56; 57; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; 228; 271; 273; 278; 280 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Thiều Thị T được ly hôn anh Thiều Quang H.
- Về con chung: Công nhận cháu Thiều Quốc B, sinh ngày 27/3/2019 là con chung của chị Thiều Thị T và anh Thiều Quang H. Giao cháu Quốc B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
Anh H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nếu có yêu cầu.
- Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Thiều Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số BLTU/24/0006750 ngày 27/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Liên |
Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
