Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HSST.

Ngày: 16 - 4 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.

  • Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Đỗ Tiến Hiệt, ông Hoàng Minh Xuân.

  • - Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Dũng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/HSST ngày 31 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST – HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Phàng Lao T; tên gọi khác: Không; sinh năm 2006 tại huyện Y, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014206010306; nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phàng Lao P (Đã chết) và bà Sồng Thị N, sinh năm: 1974; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện Y (Nay là cơ sở giam giữ Y) cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 24/12/2024, Phàng L một mình đi bộ từ nhà tại bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La đến bản B, xã C, huyện Y để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi T đến cuối bản Bó Hin thì gặp 01 người đàn ông không quen biết, Tông làm quen sau đó mua hỏi và mua được của người đó 05 viên Hồng Phiến được gói bằng mảnh nilon màu hồng với số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). Có được ma túy T cất vào túi áo ngực bên phải rồi đi bộ về nhà. Vào khoảng 20 giờ cùng ngày khi P1 Lao Tông di chuyển đến đầu bản Bó Hin, xã C, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng thu là 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 05 viên Hồng Phiến, Phàng Lao T khai nhận là ma túy mua về để sử dụng cho bản thân.

Ngày 25/12/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện Y cùng với Phòng K Công an tỉnh S, tiến hành cân tịnh số vật chứng thu giữ của Phàng L. Kết quả: 05 viên Hồng Phiến thu giữ của Phàng L có tổng khối lượng 0,46 gam. Trích lấy 02 viên khối lượng 0,18 gam, ký hiệu A làm mẫu gửi giám định, số còn lại 03 viên, khối lượng 0,28 gam, ký hiệu A1 lưu kho vật chứng.

Tại bản Kết luận giám định số: 134/KL-KTMT ngày 27/12/2024 của phòng K Công an tỉnh S, kết luận:

  • - Mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam;

  • - Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,46 gam Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra, bị can Phàng Lao T khai nhận ngày 24/12/2024 đã thực hiện hành vi mua, tàng trữ trái phép 0,46 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân, bị phát hiện bắt quả tang như đã nêu.

Cáo trạng số: 22/CT - VKSYC ngày 31/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Phàng L tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, giữ quan điểm truy tố bị cáo Phàng Lao T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

  • - Tuyên bố bị cáo Phàng Lao T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 22 tháng tù.

  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

  • - Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,28 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút gửi giám định);

Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 24/12/2024 bị bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép 0,46 gam ma túy, loại Methamphetamine, để sử dụng cho bản thân. Nay bị báo đã biết tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo mà giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo theo Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát: Tại phiên tòa bị cáo Phàng Lao T khai nhận ngày 24/12/2024 do bản thân đã từng sử dụng ma túy nên đã đi mua, cất giấu 0,46 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hành vi cất giấu 0,46 gam ma túy bị phát hiện bắt quả tang như Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với vật chứng thu giữ trong người bị cáo; kết luận giám định vật chứng thu giữ là ma túy cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Phàng Lao T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cầm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước hết là xâm hại đến chính sức khỏe, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng; là nguyên nhân làm phát sinh, lây lan tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy trong xã hội hiện nay. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ý thức chấp hành pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng bị áp dụng.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận tội. Nên được xem xét áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ biên bản xác minh xác định bị cáo không có tài sản để thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,28 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút gửi giám định) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, vật cấm lưu hành. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; để tuyên tịch thu tiêu huỷ.

[8] Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do mua của một người đàn ông không quen biết ở cuối bản Bó Hin, xã C, huyện Y, việc mua bán ngoài bị cáo và đối tượng bán ra không có người thứ ba chứng kiến. Do đó cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Sơn La không có cơ sở để điều tra làm rõ. Bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy bị phát hiện bắt giữ.

[9] Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    • - Tuyên bố bị cáo Phàng Lao T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

    • - Xử phạt bị cáo Phàng Lao T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 24/12/2024 (Ngày tạm giữ bị cáo).

    • Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

    • - Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu hồng đựng vật chứng ban đầu + vật chứng nhập kho ký hiệu A1 = 0,28 gam Methamphetamine.

    • Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 30/BB-CCTHADS ngày 01/4/2025, giữa Công an tỉnh S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

    • - Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

    • - Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/4/2025).

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh;
  • - VKSND huyện (02 bản);
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Sơn La;
  • - Cơ sở giam giữ Yên Châu;
  • - THA dân sự huyện;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Sơn La;
  • - THA dân sự huyện;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VPTA.

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kỳ Việt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HSST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý (criminal case)

  • Số bản án: 33/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phàng Lao T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger