TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HNGĐ – ST Ngày 15 - 4 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Đức;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Đoàn;
Ông Nguyễn Minh Chí;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2025/TLST- HNGĐ, ngày 10 tháng 02 năm 2025, về việc yêu cầu ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXX - ST, ngày 11 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích T, sinh năm: 1992; Hộ khẩu thường trú: Số B, đường L, khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. Chỗ ở hiện nay: Số A ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Anh Lâm Tuấn K, sinh năm: 1991; Cư trú tại: Số B, đường L, khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
(Chị T, anh K có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa chị Trần Thị Bích T trình bày:
Về hôn nhân: Chị T và anh K cưới nhau, về sống chung từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ, chồng sống chung với gia đình chồng tại thị trấn C, huyện C. Vợ chồng sống chung hạnh phúc được thời gian đầu, cách đây khoảng 5 năm thì vợ, chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn do anh K không chịu khó lao động đi làm kiếm tiền, mà thường xuyên đi nhậu, đá gà, đánh bạc gây nợ, chị T phải phụ anh K trả nợ nhiều lần, lần gần nhất chị T phải trả nợ cho anh K gần 200.000.000 đồng. Kinh tế gia đình phụ thuộc hoàn toàn vào thu nhập của chị T từ việc bán đồ ăn sáng và bán nước giải khát. Anh K cũng có phụ chị T nhưng ít, có thời gian anh K trốn nợ chỉ ở trong nhà để một mình chị T phải buôn bán, lo toan cho gia đình.
Chị T đã nhiều lần khuyên anh K đừng chơi cờ bạc ở nhà phụ chị nhưng anh K không thay đổi. Khoảng giữa tháng 02 năm 2025, thì chị T cùng con đã bỏ nhà về nhà mẹ ruột của chị ở thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang sống cùng mẹ ruột. Chị T cũng đã chuyển trường cho cháu T1 về học ở thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. Từ khi chị T bỏ đi thì anh K có đến nhà mẹ ruột chị T để tìm chị T nhưng không gặp, mục đích anh K tìm là để đưa chị T về lại sống chung với anh K nhưng chị T không đồng ý nên đã tránh mặt.
Do vậy, chị T xét thấy đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án cho chị T được ly hôn với anh K.
Về con chung: Vợ chồng sống chung có một người con chung Lâm Ngọc Lan T1, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2013, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi một người con Lâm Ngọc L T1 theo đúng theo nguyện vọng của con được ở với mẹ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa anh K trình bày: Về thời gian cưới nhau, đăng ký kết hôn, sống chung và ly thân cũng như trình bày của chị T. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ, chồng chị T trình bày có đúng có sai. Anh K thừa nhận trước đây có đi nhậu, đá gà, đánh bạc gây nợ, chị T phải phụ anh K trả nợ nhiều lần, lần gần nhất chị T phải trả nợ cho anh K gần 200.000.000 đồng. Sau khi chị T về thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang sinh sống và đã ly thân với anh K thì anh K không còn nhậu, đá gà, đánh bạc gây nợ nữa. Do anh K còn thương vợ, con nên việc chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh K thì anh không đồng ý.
Về con chung: Con hiện nay về ở với vợ và mẹ vợ tại thị trấn C, huyện C cháu học ổn định nên anh K đồng ý để con ở đó học luôn và sống chung với chị T.
Về tài sản chung và về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Bích T đối với bị đơn anh Lâm Tuấn K nơi cư trú của anh K là khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị T và anh xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C là hôn nhân hợp pháp được pháp luật quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Bích T với anh Lâm Tuấn K: Hội đồng xét xử xét thấy, theo lời trình bày của chị T nguyên nhân mâu thuẫn do anh K không lao động hợp pháp để kiếm tiền mà thường xuyên đi nhậu, đá gà, đánh bạc gây nợ, chị T phải phụ anh K trả nợ nhiều lần, lần gần nhất chị T phải trả nợ cho anh K gần 200.000.000 đồng đã được anh K thừa nhận. Chị T cũng thường xuyên khuyên anh K từ bỏ cờ bạc để cùng phụ chị buôn bán nhưng anh K không thay đổi. Chị T và anh K cũng đã ly thân, thời gian ly thân anh K có đến tìm chị T để đoàn tụ nhưng chị T tránh mặt.
[2.2] Tại phiên tòa chị T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với anh K. Do vậy, xét thấy trên thực tế hôn nhân giữa chị T và anh K không còn. Chị T không còn quan tâm đến anh K, còn anh K tuy cho rằng còn rất thương vợ, con nhưng không đưa ra được bằng chứng nào để chứng minh anh K còn rất thương vợ, con. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa chị T và anh K đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T với anh K.
[2.3] Về con chung: Quá trình sống chung chị T và anh K có 01 người con Lâm Ngọc Lan T1, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2013. Nguyện vọng của cháu T1 được ở với chị T và chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do vậy, chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục người con Lâm Ngọc Lan T1 là phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh K cấp dưỡng, sự tự nguyện của chị T là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[2.4] Tại phiên tòa chị T và anh K đều xác nhận tài sản chung và nợ chung: Không có.
[2.5] Về án phí: Chị Trần Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Bích T với anh Lâm Tuấn K.
- Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Bích T được ly hôn với anh Lâm Tuấn K.
- Về con chung: Chị Trần Thị Bích T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục người con Lâm Ngọc Lan T1, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2013.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có;
- Về án phí: Chị Trần Thị Bích T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai số 0013993 ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An sang án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Chị Trần Thị Bích T và anh Lâm Tuấn K có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Đức |
Bản án số 33/2025/HNGĐ – ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Bích T xin ly hôn anh Lâm Tuấn K
