Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒA VANG

TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HSST

Ngày: 14-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Bạt Hào
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hồng
  • Ông Lê Văn Bút
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP.Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: bà Đoàn Thị Xuân Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP ., xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 11tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo:

1/ P – Sinh ngày 03/4/1977 - Tại Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; Con ông Phan L và bà Trương Thị T; Vợ Võ Thị Thu H; Bị cáo có hai con lớn sinh năm 2006 nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.

2/ Nguyễn Thế M – Sinh ngày 25/6/1973 - Tại Quảng Nam; Nơi cư trú: phòng G Chung cư A, đường B, tổ D, phường N, quận S, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị T1; Vợ Nguyễn Thị Kim X; bị cáo có hai con lớn sinh năm 1994 nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo hiện đang tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Phạm Văn B, sinh năm 1992; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng, vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 2000; Nơi cư trú: thôn P, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S điều tra vụ án hình sự “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” xảy ra tại địa bàn thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, phát hiện ngày 10/02/2023 quá trình điều tra vụ án, Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã khởi tố bị can Phan Văn S - Phó Chủ tịch xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo Điều 356 Bộ luật Hình sự và bị can Lê Công H2 về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật Hình sự. Bị can S đã lợi dụng chức vụ của mình để ký chứng thực khống và sử dụng dấu đỏ của UBND xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng để đóng vào nhiều Hợp đồng mua, bán xe mô tô, xe máy để trống nội dung rồi đưa các tài liệu ký khống cho bị can Hiện để Hiện sử dụng đăng ký các loại xe mô tô, xe máy không rõ nguồn gốc, ngoài ra Hiện còn đem một số hợp đồng chứng thực khống bán lại cho các tiệm mua, bán xe máy để trục lợi.

Qua rà soát xác định vào ngày 28/3/2023, Công an xã H, huyện H, TP. tiếp nhận 01 bộ hồ sơ sang tên chủ xe mô tô trong đó có 01 Hợp đồng mua, bán xe mô tô, xe máy hiệu Air Blade, biển kiểm soát 43K1-299.69 được ông Phan Văn S ký chứng thực khống nói trên. Qua kiểm tra số chứng thực và hồ sơ lưu tại UBND xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng thì không có thông tin về hợp đồng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tách hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 giải quyết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 đã chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra đã xác định như sau:

Vào khoảng đầu năm 2023, Phạm Văn B (Sinh năm: 1992, trú: thôn V, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng) là chủ tiệm cầm đồ tại xã H, huyện H đã thanh lý 01 chiếc xe máy hiệu Air Blade biển kiểm soát 43K1-299.69 do anh Nguyễn Hữu T2 (Sinh năm: 1992, trú: thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng) cầm cố tại đây cho chị Nguyễn Thị Hồng V (Sinh năm: 2000, trú: thôn P, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng). Khi thanh lý, B nhờ Phan Q thực hiện các thủ tục sang tên đổi chủ xe máy giúp với tiền công là 700.000 đồng. Lúc này, do muốn nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ nên Q liên hệ Nguyễn Thế M để nhờ Mỹ ký giúp hợp đồng mua bán xe giữa các bên. Khi được nhờ, M đã đưa cho Q 01 Hợp đồng mua bán xe mô tô, xe máy được chứng thực khống (có sẵn chữ ký của ông S, ông T3 -cán bộ tư pháp, có đóng dấu đỏ của UBND xã M nhưng chưa điền nội dung) và nói Q tự điền thông tin vào. Q nhận tờ hợp đồng và đưa cho M 200.000 đồng. Sau đó Quốc điền các thông tin cần thiết vào hợp đồng và đưa vào bộ hồ sơ sang tên đổi chủ xe máy nộp tại Công an xã H, huyện H. Hiện xe nói trên đã được cấp giấy đăng ký mới.

Về nguồn gốc hợp đồng chứng thực khống: Hợp đồng này do một người ở miền N (không rõ nhân thân, lai lịch) gửi cho Phan Bá P (Sinh năm 1984, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An) trong một bộ hồ sơ để nhờ P thu hồi hồ sơ đăng ký xe. Khi P nhận được bộ hồ sơ thì P không mở ra xem mà đã bỏ vào một phong bì khác để gửi đến cho Nguyễn Thế M để nhờ Mỹ làm thủ tục giúp. M nhận hồ sơ và mở ra thì phát hiện có tờ hợp đồng chứng thực khống nói trên, tuy nhiên sau đó M không sử dụng mà đưa lại cho Q.

Quá trình làm việc, Phan Q và Nguyễn Thế M đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định số: 814 ngày 04/10/2024 của Phòng K Công an T4 kết luận:

  • + Chữ ký mang tên Trần Quốc T3 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Trần Quốc T3 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 không phải do cùng một người ký ra.
  • + Chữ ký mang tên Phan Văn S1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Phan Văn S1 trên các mẫu so sánh ký hiệu M1 đến M10 do cùng một người ký ra.
  • + Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D XÃ MỸ BÌNH T.X NGÃ NĂM T.SÓC TRĂNG *” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tròn của UBND xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 (mẫu hình dấu sử dụng từ thời điểm tháng 07/2022 đến ngày 06/9/2022) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • + Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D XÃ MỸ BÌNH T.X NGÃ NĂM T.SÓC TRĂNG *” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tròn của UBND xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M6 đến M10 (mẫu hình dấu sử dụng từ thời điểm ngày 15/9/2022 đến nay) do cùng một con dấu đóng ra.

- Tại Kết luận giám định số: 938 ngày 02/12/2024 của Phòng K1 kết luận:

  • + Chữ viết, chữ ký mang tên Nguyễn Hữu T2 dưới mục Bên A trên mẫu cần giám định so với chữ viết, chữ ký của Nguyễn Hữu T2 trên các mẫu so sánh không phải do cùng một người viết, ký ra.
  • + Chữ viết, chữ ký mang tên Nguyễn Thị Hồng V dưới mục Bên B trên mẫu cần giám định so với chữ viết, chữ ký của Nguyễn Thị Hồng V trên các mẫu so sánh do cùng một người viết, ký ra.

* Tang vật tạm giữ:

01 Hợp đồng mua, bán xe mô tô, xe máy của xe mô tô hiệu Air Blade biển kiểm soát 43K1-299.69 có chữ ký chứng thực của ông Phan Văn S1, được đóng dấu đỏ của UBND xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

* Xử lý vật chứng:

Đối với 01 Hợp đồng mua, bán xe mô tô, xe máy của xe mô tô hiệu Air Blade biển kiểm soát 43K1-299.69 có chữ ký chứng thực của ông Phan Văn S1, được đóng dấu đỏ của UBND xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng quy trữ hồ sơ để phục vụ xét xử.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số: 30/CT-VKS ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP. thì bị cáo Phan Q và Nguyễn Thế M bị truy tố về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP. thực hành quyền công tố nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt: Phan Quốc từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
  • Phạt tiền bổ sung từ 10.000.000đ đến 20.000.000₫
  • Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt: Nguyễn Thế M từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
  • Phạt tiền bổ sung từ 10.000.000đ đến 20.000.000₫
  • - Truy thu số tiền thu lợi bất chính của Phan Q là 500.000₫
  • - Truy thu số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thế M là 200.000₫

Cac bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin HĐXX xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Vào đầu năm 2023, vì muốn làm nhanh chóng các thủ tục hành chính nên Phan Q đã nhờ Nguyễn Thế M ký hợp đồng mua bán xe mô tô, xe máy giúp mình, khi được nhờ M đưa cho Q một hợp đồng mua bán xe mô tô, xe máy được chứng thực khống rồi nói Q tự điền thông tin vào. Sau khi nhận được hợp đồng chứng thực khống thì Q đã tự điền tên của bên bán xe là Nguyễn Hữu T2 rồi nộp tại Công an xã H để làm thủ tục sang tên đổi chủ xe cho chị Nguyễn Thị Hồng V. Với hành vi trên bị cáo Phan Q và Nguyễn Thế M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang truy tố về tội : Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì nên HĐXX không xem xét.

[2] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Vì muốn làm nhanh chóng các thủ tục hành chính nên Phan Q đã nhờ Nguyễn Thế M ký hợp đồng mua bán xe mô tô, xe máy giúp mình, khi được nhờ M đưa cho Q một hợp đồng mua bán xe mô tô, xe máy được chứng thực khống rồi nói Q tự điền thông tin vào và hưởng lợi 200.000đ. Sau khi nhận được hợp đồng chứng thực khống thì Q đã tự điền tên của bên bán xe là Nguyễn Hữu T2 rồi nộp tại Công an xã H để làm thủ tục sang tên đổi chủ xe cho chị Nguyễn Thị Hồng V. Như vậy trong vụ án này các bị cáo biết hợp đồng mua bán đã có sẵn không kỹ hợp đồng và chứng thực đúng quy định của pháp luật nhưng hai bị cáo vẫn sử dụng làm hồ sơ nộp cho Công an xã H, huyện H để cấp giấy tờ xe cho chị Nguyễn Thị Hồng V. Do đó hai bị cáo phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự”. Trong vụ án này M là người cung cấp hồ sơ giả, Q là người sử dụng trực tiếp hồ sơ giả do đo cả hai bị cáo có hành vi ngang nhau, nên có mức hình phạt như nhau. Hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước về tài liệu, xâm phạm lợi ích của Nhà nước. Bản thân hai bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo đã sử dụng tài liệu của cơ quan tổ chức để sử dụng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của cơ quan Nhà nước. Do đó, cần phải xử lý hai bị cáo với một mức án đủ nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe hai bị cáo và phòng ngừa chung.

[2] Xét truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang thì thấy:

Cáo trạng số: 30/CT-VKS ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP. truy tố hai bị cáo Phan Q, Nguyễn Thế M về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. HĐXX xét thấy, đây là điều luật kép nếu các bị cáo phạm tội ở hành vi nào thì xử lý hành vi đó. Trong vụ án này hai bị cáo có hành vi “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” do đó chỉ xử lý hai bị cáo về hành vi “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đối với hai bị cáo là có căn cứ. Mặc dù cáo trạng truy tố bị cáo về hai tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nhưng khi đề nghị mức hình phạt đối với hai bị cáo thì đại diện Viện kiểm sát chỉ đề nghị một mức hình phạt là không chính xác, không phù hợp với tinh thần của điều luật quy định.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • - Tình tiết tăng nặng: Không.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Cả hai bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay hai bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Q có ông nội là liệt sĩ được Thủ tướng Chính phủ trao bằng tổ quốc ghi công; vợ bị cáo mới phẩu thuật xong nên hoàn cảnh gia đình có phần khó khăn. Do đó đối với bị cáo Q cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

HĐXX xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, từ trước tới nay chưa vi phạm pháp luật, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Cả hai bị cáo có chỗ ở ổn định, để tạo điều kiện cho hai bị cáo được lao động phụ giúp gia đình và trở thành công dân có ích cho xã hội. Xét thấy không cần thiết phải cách ly hai bị cáo ra ngoài xã hội mà cần áp dụng Điều 65 BLHS tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với hai bị cáo cũng là thỏa đáng.

4/ Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Lưu theo hồ sơ vụ án 01 Hợp đồng mua, bán xe mô tô, xe máy của xe mô tô hiệu Air Blade biển kiểm soát 43K1-299.69 có chữ ký chứng thực của ông Phan Văn S1, được đóng dấu đỏ của UBND xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
  • - Truy thu số tiền 500.000đ thu lợi bất chính của Phan Q
  • - Truy thu số tiền 200.000đ thu lợi bất chính của Nguyễn Thế M.

[5] Đối với các đối tượng:

  • - Đối với Phan Bá P: P khai nhận được một người ở miền N (không rõ nhân thân, lai lịch) nhờ rút hồ sơ đăng ký xe giúp. Sau đó người này gửi cho P một bộ hồ sơ đựng trong một phong bì, khi nhận được phong bì thì P không mở ra xem mà lại lồng vào một phong bì khác rồi gửi cho Nguyễn Thế M, đến khi M mở ra thì mới phát hiện trong đó có chứa tờ hợp đồng nói trên. P và M không trao đổi trước cũng như không có giao dịch mua, bán tờ hợp đồng này và M hiện không còn giữ phong bì mà P gửi cho Mỹ vào thời điểm đó. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý P về hành vi đồng phạm với M, Q về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là có cơ sở nên HĐXX không đề cập đến.
  • - Đối với Phạm Văn B: Sau khi bán xe cho khách thì B nhờ Q thực hiện các thủ tục sang tên đổi chủ xe. B không chỉ đạo và cũng không biết việc Q sử dụng hợp đồng trên nên không có căn cứ để xử lý đối với B là thỏa đáng.
  • - Đối với Công an xã H: Qua làm việc với cán bộ đăng ký xe xác định khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký xe mô tô nói trên, cán bộ đăng ký xe đã kiểm tra đầy đủ hồ sơ và không biết được hợp đồng mua, bán xe mô tô, xe máy nói trên là hợp đồng chứng thực khống nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

[5] Về án phí:

Hai bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Q, Nguyễn Thế M phạm tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

1/ Căn cứ:

khoản 1, khoản 4 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt:

P (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 14/4/2025.

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, TP Đà Nẵng quản lý, giáo dục trong suốt thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

- Phạt bổ sung Phan Quốc số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).

2/ Căn cứ:

khoản 1, khoản 4 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt:

Nguyễn Thế M 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 14/4/2025.

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường N, quận S, TP Đà Nẵng quản lý, giáo dục trong suốt thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

- Phạt bổ sung Nguyễn Thế M số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).

2/ Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Lưu theo hồ sơ vụ án 01 Hợp đồng mua, bán xe mô tô, xe máy của xe mô tô hiệu Air Blade biển kiểm soát 43K1-299.69 có chữ ký chứng thực của ông Phan Văn S1, được đóng dấu đỏ của UBND xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
  • - Truy thu số tiền 500.000đ thu lợi bất chính của Phan Quốc .
  • - Truy thu số tiền 200.000đ thu lợi bất chính của Nguyễn Thế M.

3/ Về án phí:

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hòa Vang;
  • - Công an huyện Hòa Vang;
  • - Chi cục THADS huyện Hòa Vang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Bạt Hào

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HSST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về sử dụng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 33/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO PHAN QUỐC PHẠM TỘI LÀM GIẢ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger