|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 03 - 4 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG- Thành phần
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Hoàng Thị Minh Ngọc |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Ông Vũ Ngọc Lâm |
| 2. Ông Nguyễn Duy Sự | |
| - Thư ký phiên toà: | Ông Lý Văn Huynh – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện H. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: | Ông Nhữ Hồng Quang - Kiểm sát viên. |
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm số hóa công khai theo hình thức trực tuyến kết nối điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện H và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh T vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2025/TLST-HS, ngày 11 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo: Trần Hải Đ, sinh ngày 22/11/1999 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T, sinh năm 1964 và bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1964; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T).
- Người làm chứng:
- + Anh Trần Anh T1, sinh năm: 1991.
- Nơi cư trú: Thôn D Làng B, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
- + Anh Trần Văn D, sinh năm 2001.
- Nơi cư trú: Thôn C Làng B, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
- + Anh Đinh Văn V1, sinh năm 1999.
- Nơi cư trú: Thôn B T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
(Những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 14/12/2024, Trần Anh T1, sinh năm 1991, trú thôn D Làng B, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang gọi điện thoại cho Trần Hải Đ hỏi có ma túy không cho T1 sử dụng. Đ đồng ý và bảo T1 đến khu vực lán ở bãi cát sông L nơi Đ ở tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H.
Khoảng 00 giờ ngày 15/12/2024, T1 rủ Trần Văn D, sinh năm 2001, trú tại thôn C Làng B, xã T, huyện H đi đến lán ở bãi cát sông L của Đăng chơi (D không biết việc T1 đến lán gần bờ sông của Đ để sử dụng ma túy). Khi đến nơi, Đ chỉ cho T1 ma túy đá cất ở cuối giường và bộ D1 sử dụng ma túy để sẵn trên bàn. Sau đó T1 cầm gói ma túy đá ra bàn uống nước ngồi sử dụng, D ngồi đối diện T1 sử dụng điện thoại, còn Đ đi ra ngoài lán đứng. Khi T1 đang sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện H phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 00 giờ 40 phút cùng ngày đối với Đ về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành niêm phong, thu giữ tang vật.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Đ, T1. kết quả đều có chất ma túy trong cơ thể của Đ và T1; đối với D, kết quả không có chất ma túy trong cơ thể của D.
Tại kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính trong ống thủy tinh và bám dính trong túi nilon gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra Đ khai nhận: Nguồn gốc số ma túy đá Đ cho T1 sử dụng là của Đinh Văn V1, sinh năm 1999, trú tại thôn A T, xã T, huyện H cho Đ. Tuy nhiên quá trình điều tra không đủ căn cứ xác định V1 cho Đ số ma túy đá trên; Kết quả xét nghiệm có chất ma túy trong cơ thể của Đ là do ngày 13/12/2024, Đ được một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ cho sử dụng ma túy tại khu V thuộc tổ dân phố C, thị trấn T, huyện H.
Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSHY, ngày 11/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Trần Hải Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Hải Đ theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Trần Hải Đ phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hải Đ từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/12/2024).
- Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về vật chứng Kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- + Tịch thu tiêu huỷ 02 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ “Tang vật vụ Trần Hải Đ, 15/12/2024”; 01 ống nhựa màu xanh đường kính 0,5cm, dài 27cm; 01 chai nhựa màu trắng, đường kính đáy 5,5cm, đường kính miệng chai 2,8cm, cao 21cm, miệng chai gắn nắp nhựa màu đỏ, trên nắp chai đục thủng 02 lỗ đều có đường kính 0,6cm; 01 bật lửa gas màu vàng được gắn ống kim loại 8,5cm đường kính 0,2cm;
- + Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE XS MAX, bên trong máy gắn 01 sim điện thoại.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với bị cáo. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo biết mình đã sai, vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc xem xét hành vi của bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Hải Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định; Lời khai của những người làm chứng cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 15/12/2024, tại khu vực lán ở bãi cát sông L thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang Trần Hải Đ đã có hành vi cung cấp ma túy loại Methamphetamine, địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy cho Trần Anh T1, sinh năm 1994, trú tại thôn D Làng B, xã T, huyện H để T1 sử dụng trái phép chất ma tuý.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chế độ quản lý sử dụng các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý, đồng thời còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qúa trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[5] Về vật chứng:
Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo: 02 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ “Tang vật vụ Trần Hải Đ, 15/12/2024”; 01 ống nhựa màu xanh đường kính 0,5cm, dài 27cm; 01 chai nhựa màu trắng, đường kính đáy 5,5cm, đường kính miệng chai 2,8cm, cao 21cm, miệng chai gắn nắp nhựa màu đỏ, trên nắp chai đục thủng 02 lỗ đều có đường kính 0,6cm; 01 bật lửa gas màu vàng được gắn ống kim loại 8,5cm đường kính 0,2cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE XS MAX, bên trong máy gắn 01 sim điện thoại.
Hội đồng xét xử xét thấy:
- - Đối với các vật chứng là bộ dụng cụ mà bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy và số ma túy còn lại. Đây là công cụ mà bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng và số ma túy còn lại bị cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- - Đối với chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo: Ngoài sử dụng vào việc liên hệ với T1, bị cáo còn sử dụng làm phương tiện liên lạc hàng ngày, tại phiên toà bị cáo xin được nhận lại nên trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại này.
[6] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi của Đinh Văn V1 theo lời khai của bị cáo là người cho bị cáo ma tuý đề bị cáo cho T1 sử dụng. Quá trình điều tra không đủ căn cứ chứng minh việc V1 cho bị cáo ma tuý nên không đề cập xử lý.
Đối với ông Nguyễn Văn T2, không biết bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại lán của mình nên không xem xét xử lý.
Đối với người đàn ông cho bị cáo sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 13/12/2024, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo và Trần Anh T1: Ngày 17/02/2025, Công an huyện H ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo tại quyết định số 43/QĐ-XPHC và 44/QĐ-XPHC.
Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các vấn đề nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Căn cứ khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Hải Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hải Đ 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/12/2024).
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ “Tang vật vụ Trần Hải Đ, 15/12/2024”; 01 ống nhựa màu xanh đường kính 0,5cm, dài 27cm; 01 chai nhựa màu trắng, đường kính đáy 5,5cm, đường kính miệng chai 2,8cm, cao 21cm, miệng chai gắn nắp nhựa màu đỏ, trên nắp chai đục thủng 02 lỗ đều có đường kính 0,6cm; 01 bật lửa gas màu vàng được gắn ống kim loại 8,5cm đường kính 0,2cm
- - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE XS MAX, bên trong máy gắn 01 sim điện thoại
(Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Ngọc |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hải Đ phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
