|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày 01-4 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Đình Bàn
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hà Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Vũ Thành N, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1966; Nơi cư trú: Số C đường M, TDP B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Mạnh T và bà Dương Thị S (đều đã chết); có vợ là Đỗ Thị C và có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21 ngày 04/11/1983 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phú (nay là thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc) xử phạt Vũ Thành N 12 tháng tù về tội “Đầu cơ ”. Hình phạt bổ sung là phạt tiền số tiền 2000 đồng. Ngày 02/8/1984, N chấp hành xong hình phạt tù. Đối với việc xác minh thu thập bản án và thi hành án phí dân sự, hình phạt bổ sung, kết quả thể hiện: trong kho lưu trữ của Tòa án và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên không còn lưu Bản án số 21, hồ sơ vụ án Vũ Thành N và các tài liệu thi hành án, do thời gian đã lâu, tài liệu trước năm 1990 đã bị mối xông nhiều. Cơ quan điều tra đã lấy lời
khai của N thể hiện đã nộp đầy đủ án phí hình sự và khoản tiền phạt bổ sung của Bản án trên.
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38 ngày 25/9/1985 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ) xử phạt Vũ Thành N 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” và buộc bồi thường cho bị hại số tiền 300 đồng, án phí hình sự sơ thẩm là 15 đồng (giá trị tài sản trộm cắp là 25.000 đồng). Ngày 01/9/1987, N chấp hành xong hình phạt tù (được tha tù trước thời hạn 14 ngày). Đối với việc xác minh thi hành án phí dân sự, hình phạt bổ sung, kết quả thể hiện: Ngày 14/11/2024, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì có văn bản số 1016 xác định đơn vị không thụ lý Bản án số 38/1985/HSST và trong kho lưu trữ không có hồ sơ thi hành án dân sự đối với N. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của N thể hiện đã nộp đầy đủ án phí hình sự và bồi thường cho bị hại của bản án trên.
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20 ngày 09/5/1988 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phú (nay là huyện M, thành phố Hà Nội) xử phạt Vũ Thành N 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (giá trị tài sản trộm cắp là 190.000 đồng). Ngày 16/3/1993, N chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Đối với việc xác minh thi hành án phí dân sự, qua xác minh tại Tòa án và Chi cục thi hành án dân sự không còn lưu trữ tài liệu, hồ sơ đối với Bản án số 20 nêu trên. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của N thể hiện đã nộp đầy đủ án phí hình sự và bồi thường cho bị hại của bản án trên.
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 99 ngày 19/11/1990 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Vĩnh Phúc) xử phạt Vũ Thành N 3 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (giá trị tài sản trộm cắp là 190.000 đồng). Ngày 16/3/1993, N chấp hành xong hình phạt tù. Đối với việc xác minh thi hành án phí dân sự, kết quả xác minh thể hiện: Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc không lưu trữ tài liệu, hồ sơ đối với Bản án số 99 nêu trên. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của N thể hiện đã nộp đầy đủ án phí hình sự và bồi thường cho bị hại của bản án trên.
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 146 ngày 20/11/1993 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Vĩnh Phúc) xử phạt Vũ Thành N 5 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (giá trị tài sản trộm cắp là 235.000 đồng). Ngày 07/9/1998, N chấp hành xong hình phạt tù. Đối với việc thu thập bản án, xác minh thi hành án phí dân sự, kết quả xác minh thể hiện: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ không có tài liệu lưu trữ, hồ sơ đối với Bản án số 146 nêu trên. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của N thể hiện đã nộp đầy đủ án phí hình sự và bồi thường cho bị hại của bản án trên.
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ – XPVPHC ngày 01/5/2000 của Công an phường L, thành phố V xử phạt Vũ Thành N hình thức phạt tiền,
mức phạt 50.000 đồng về hành vi đánh nhau gây rối trật tự công cộng. Ngày 03/5/2000, N đã chấp hành nộp phạt xong.
- + Tại Quyết định số 85/QĐ – UB ngày 11/01/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh V về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục T5 đối với Vũ Thành N, thời hạn 24 tháng. Ngày 12/01/2003, Nam chấp hành xong thời hạn giáo dục bắt buộc.
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25/QĐ – XPVPHC ngày 20/9/2015 của Công an thành phố V xử phạt Vũ Thành N hình thức phạt tiền, mức phạt 750.000 đồng về hành vi đánh nhau gây rối trật tự công cộng. Công an thành phố V đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở N thi hành nộp phạt, nhưng N không có mặt ở nhà, đi đâu, làm gì địa phương không nắm được và đến nay chưa chấp hành nộp phạt. Đến nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024 đến ngày 02/9/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại “có mặt”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Lê Văn M, sinh năm 1984; nơi cư trú: Khu đô thị N, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Anh Hoàng Hữu Đ, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khu đô thị N, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Chị Bạch Thị Vân A, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1976; TDP C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Anh Đỗ Mạnh T1, sinh năm 1979; nơi cư trú: TDP L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1974; nơi cư trú: TDP B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Anh Phùng Quang M1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Anh Phạm Văn C2, sinh năm 1982; nơi cư trú: TDP T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Anh Vũ Xuân Q, sinh năm 1994; nơi cư trú: TDP B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
- + Chị Ngô Thị L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Ông Lê Văn V, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
(Vắng mặt).
- + Bà Vũ Thị Minh H, sinh năm 1965; nơi ĐKHKTT: TDP B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ở hiện nay: Số nhà A, ngách A, ngõ A, đường M, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Anh Vũ Thanh H1, sinh năm 1971; nơi cư trú: TDP X, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Anh Trần Quốc H2, sinh năm 1971; nơi cư trú: Số nhà C, ngõ A, đường M, TDP B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Chị Phạm Thị H3, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ngõ A, đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối năm 2021, Vũ Thành N đã thực hiện hành vi cho vay lãi với mức lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/1 triệu/ngày (tương đương với 108% đến 180%/năm, vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất là 20%/năm được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự), mục đích để thu lời bất chính, với hình thức: Cho vay thu lãi tháng, mỗi tháng trả 1 lần; khi đến vay những người vay phải viết giấy vay nợ và phải để lại tài sản, giấy tờ đảm bảo như chứng minh thư nhân dân, đăng ký xe... Người vay trả gốc, lãi cho N bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản đến số tài khoản 0978292292 của Vũ Xuân Q, sinh năm 1994 ở TDP B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc là con trai N, mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 – Chi nhánh V1 (gọi tắt là M2).
Với cách thức cho vay nêu trên, trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến ngày 27/8/2024, Vũ Thành N đã cho 08 người vay lãi tương ứng 17 khoản vay. Cụ thể như sau:
- Vũ Thành N cho anh Phùng Quang M1, sinh năm 1984, ở thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc vay số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 10/10/2020, lãi suất là 3.333 đồng/triệu/ngày, không cắt lãi trước. Khi vay, anh M1 viết giấy vay tiền tại cuốn sổ tay của N nội dung để lại một giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, BKS: 88A-2566 đứng tên anh M1 (nhưng thực tế anh M1 không để lại giấy đăng ký xe ô tô). Tính đến ngày 10/12/2023, anh M1 đã trả cho N tổng số tiền lãi là 1170 ngày = 39.000.000 đồng, đều trả tiền lãi trực tiếp cho N. Trong đó: Tiền lãi tính theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự được xác định là (10.000.000 đồng x 1170 ngày x 20%/365 ngày) là 6.410.959 đồng. Tiền thu lời bất chính là tổng số tiền lãi đã thu được trừ đi số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự, tức là 39.000.000 đồng – 6.410.959 = 32.589.041 đồng. Anh M1 còn nợ 10.000.000 đồng tiền gốc
vay.
- Vũ Thành N cho chị Bạch Thị Vân A, sinh năm 1987, ở Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc vay tiền 02 lần với tổng số tiền là 40.000.000 đồng, số tiền được cầm về khi vay là 36.000.000 đồng (cắt lãi trước). Tổng số tiền lãi thu được là: 50.000.000 đồng, khi cho vay N không quen biết chị Vân A nên chị Vân A đã nhờ bạn là chị Ngô Thị L, sinh năm 1987, ở Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc là người quen của N đứng ra bảo lãnh viết giấy vay tiền và để lại CCCD, Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Ngô Thị L, cụ thể:
- - Lần 1: Ngày 20/12/2021, chị Vân A vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất là 3.300đ/1 triệu/01 ngày. Khi vay, chị Vân A viết giấy vay tiền và để lại 01 Căn cước công dân mang tên chị Vân A để làm tin. N cắt lãi trước 2.000.000 đồng/1 tháng và đưa cho chị Vân A số tiền 18.000.000 đồng. Tính đến ngày 20/3/2024, số tiền lãi Nam thu được là 450 ngày = 30.000.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS: 4.931.507đ, tiền thu lời bất chính: 25.068.493đ. Chị Vân A đã trả 11.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ 9.000.000 đồng tiền gốc vay.
- - Lần 2: Ngày 14/5/2022, Nam cho chị Vân A vay số tiền 20.000.000 đồng. Khi vay, chị Vân A nhờ bạn là chị Ngô Thị L, sinh năm 1995 ở thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đi cùng và đứng tên viết giấy vay tiền (chị Vân A cũng ký vào giấy vay tiền). Chị L để lại một giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và căn cước công dân đều mang tên Ngô Thị L. Nam tính lãi suất là 3300 đồng/triệu/ngày, N cắt lãi trước tiền lãi 1 tháng là 2.000.000 đồng và đưa cho chị Vân A số tiền 18.000.000 đồng. Tính đến ngày 20/3/2023, số tiền lãi Nam thu được là 300 ngày = 20.000.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là: 3.287.671 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 16.712.329 đồng. Chị Vân A còn nợ 20.000.000 đồng tiền gốc vay.
Khi làm thủ tục vay, N đều đưa tiền mặt trực tiếp cho chị Vân A. Khi trả tiền gốc, lãi, chị Vân A thường đến nhà đưa trực tiếp tiền cho N. Ngoài ra có một vài lần, chị Vân A sử dụng số tài khoản 308878888 mở tại Ngân hàng V2 của chị Vân A chuyển khoản đến số tài khoản Ngân hàng MB của Q để trả tiền gốc, lãi cho N. Như vậy, tổng số tiền lãi N thu được của chị Vân A là 50.000.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo Bộ luật dân sự là 8.219.178 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 41.780.822 đồng. Chị Vân A còn nợ N 29.000.000 đồng tiền gốc của cả hai khoản vay trên.
- Vũ Thành N cho anh Lê Văn M, sinh năm 1984, ở Khu đô thị N, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vay tiền 06 lần với tổng số tiền là 80.000.000 đồng. Số tiền vay thực tế được cầm về là 80.000.000 đồng (đều không bị cắt lãi trước). Tổng số tiền lãi đã thu được là: 57.400.000 đồng. Khi vay, anh M để lại CCCD mang tên Lê Văn M và viết giấy vay tiền, cụ thể:
- - Lần thứ nhất: Ngày 26/2/2023, anh M vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày. Ngày 27/3/2023, anh M sử dụng số tài khoản ngân hàng D mở tại Ngân hàng B, chuyển khoản số tiền 1.500.000 đồng của 30 ngày lãi đến số tài khoản của Q và Q đã đưa cho N số tiền này. Trong đó: Tiền lãi tính theo Bộ luật dân sự là 164.384 đồng. Tiền thu lời bất chính là 1.335.616 đồng. Đối với khoản vay này, anh M đã trả 10.000.000 đồng tiền gốc.
- - Lần thứ hai: Ngày 27/3/2023, anh M vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày. Khi trả tiền lãi, anh M vừa trả tiền bằng cách đưa trực tiếp cho N, vừa chuyển khoản cho Q. Ngày 25/01/2024, anh M chuyển khoản số tiền 21.175.000 đồng cho Q, gồm 20.000.000 đồng tiền gốc và 1.175.000 đồng tiền lãi tháng 01/2024 để trả cho N (do N đã làm mất bằng lái xe ô tô hạng B2 của anh M nên N phải bồi thường cho anh M số tiền đi làm lại bằng lái xe là 1.825.000 đồng nên anh M chỉ phải trả tiền lãi 30 ngày là: 1.175.000 đồng). Tính đến ngày 25/01/2023, tổng số tiền lãi thu được là 300 ngày = 30.000.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là: 3.287.671 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 26.712.329 đồng.
- - Lần 3: Ngày 25/9/2023, anh M vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày. Ngày 07/10/2023, anh M chuyển khoản cho Q số tiền 10.600.000 đồng, gồm 10 triệu đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi để trả cho N. Số tiền lãi thu được là 12 ngày = 600.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là: 65.753 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 534.247 đồng.
- - Lần 4: Ngày 24/10/2023, anh M vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày. Ngày 22/01/2024, anh M chuyển khoản số tiền 11.500.000 đồng cho Q, gồm 10 triệu đồng tiền gốc và 1.500.000 đồng tiền lãi của tháng 01/2024 (trước đó, anh M đã chuyển khoản cho Q 3 triệu tiền lãi của tháng 11, 12 vào ngày 28/11 và ngày 23/12/2023 để trả cho N). Số tiền lãi thu được là 90 ngày = 4.500.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là: 493.151 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 4.006.849 đồng.
- - Lần 5: Ngày 20/3/2024, anh M vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày. Khi trả lãi, anh M vừa trả trực tiếp bằng tiền mặt, vừa trả bằng hình thức chuyển khoản. Tính đến ngày 23/8/2024, số tiền lãi Nam thu được là 150 ngày = 15.000.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là: 1.643.836 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 13.356.164 đồng. Anh M còn nợ 20.000.000 đồng tiền gốc vay.
- - Lần 6: Ngày 01/4/2024, anh M vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày, khi trả lãi anh M vừa chuyển khoản vừa trả bằng tiền mặt. Ngày 25/7/2024, anh M chuyển khoản số tiền 11.300.000 cho Q để trả cho N 10 triệu đồng tiền gốc vay và 1.300.000 đồng tiền lãi. Số tiền lãi Nam thu được là
115 ngày = 5.800.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là: 630.137 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 5.169.863 đồng.
Như vậy, N đã cho anh M vay tổng số tiền 80.000.000 đồng, số tiền thực tế khi vay được cầm về là 80.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi đã thu được là: 57.400.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo Bộ luật dân sự là: 6.284.932 đồng, số tiền thu lời bất chính là: 51.115.068 đồng. Số tiền gốc anh M đã trả là: 60.000.000 đồng, số tiền gốc còn nợ là: 20.000.000 đồng.
- Vũ Thành N cho anh Đỗ Mạnh T1, sinh năm 1979, ở TDP L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vay tiền 02 lần với tổng số tiền là 30.000.000 đồng, số tiền được cầm về khi vay là 27.000.000 đồng (cắt lãi trước). Tổng số tiền lãi đã thu được là: 21.000.000 đồng, cụ thể:
- - Lần 1: Ngày 20/02/2023, N cho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày, không cắt lãi trước. Anh T1 đã trả cho N số tiền 10.000.000 đồng tiền gốc vay. Khi trả tiền gốc, lãi, anh T1 sử dụng số tài khoản 9990125041979 và 9990188899969 mở tại Ngân hàng M3 chuyển khoản đến số tài khoản của Q. Tính đến ngày 20/8/2023, số tiền lãi thu được là 180 ngày = 9.000.000 đồng. Số tiền lãi thu theo BLDS là: 986.301 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 8.013.699 đồng.
- - Lần 2: Ngày 10/5/2024, N cho anh T1 vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất là 5000 đồng/triệu/ngày. Khi vay, anh T1 viết giấy vay tiền, để lại căn cước công dân mang tên anh T1 và một giấy chứng nhận đăng ký xe máy BKS: 88F1- 1057 mang tên Lê Văn V. Nam cắt lãi trước một tháng tiền lãi = 3.000.000 đồng, số tiền anh T1 được cầm về là 17.000.000 đồng. Khi trả tiền lãi, anh T1 đều sử dụng số tài khoản 9990125041979 mở tại Ngân hàng M3 chuyển khoản đến số tài khoản của Q. Tính đến ngày 12/8/2024, tổng số tiền lãi thu được là 120 ngày = 12.000.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là 1.315.068 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 10.684.932 đồng. Anh T1 còn nợ 20.000.000 đồng tiền gốc vay.
Như vậy, tổng số tiền lãi Nam thu được của anh T1 là: 21.000.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo Bộ luật dân sự là: 2.301.369 đồng, tiền thu lời bất chính là: 18.698.631 đồng. Anh T1 còn nợ 20.000.000 đồng tiền gốc vay.
- Vũ Thành N cho anh Hoàng Hữu Đ, sinh năm 1982, ở KĐT N, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vay tiền 03 lần với tổng số tiền là 30.000.000 đồng, số tiền vay thực tế được cầm về là 30.000.000 đồng (đều không bị cắt lãi trước). Tổng số tiền lãi đã thu được là: 53.250.000 đồng. Khi vay anh Đ để lại căn cước công dân, giấy phép lái xe mô tô hạng A1, giấy phép lái xe ô tô hạng B2 đều mang tên Hoàng Hữu Đ; đăng ký xe mô tô, BKS: 88M- 00057 đứng tên đăng ký là Liên minh hợp tác xã tỉnh V và viết giấy vay tiền, cụ thể:
- - Lần 1: Ngày 26/3/2023, anh Đ vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày. Khi vay, Đ để lại một giấy phép lái xe hạng A1, căn cước công dân đều mang tên anh Đ và viết giấy vay tiền. Đến ngày 19/8/2024, anh Đ đã trả đủ cho N số tiền gốc 10.000.000 đồng và số tiền lãi của 510 ngày = 25.500.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là: 2.794.521 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 22.705.479 đồng.
- - Lần 2: Ngày 03/5/2023, anh Đ vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày. Tính đến ngày 19/8/2024, số tiền lãi thu được là 105 ngày = 5.250.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là: 575.342 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 4.674.658 đồng. Anh Đ còn nợ 10.000.000 đồng tiền gốc vay. Từ khi vay đến tháng 12/2023, anh Đ đều trả tiền gốc, lãi bằng cách đưa tiền mặt trực tiếp cho N. Từ tháng 12/2023 đến tháng 8/2024, anh Đ sử dụng số tài khoản 4252588368 và 4251107894 mở tại Ngân hàng B chuyển khoản đến số tài khoản Ngân hàng MB của Q để trả tiền gốc, lãi cho N.
- - Lần 3: Ngày 15/5/2023, anh Đ vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày. Khi vay Đ viết giấy vay tiền và để lại giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, BKS: 88M- 000.75 để làm tin. Đến ngày 19/8/2024, anh Đ đã trả đủ cho N số tiền gốc 10 triệu đồng và số tiền lãi 450 ngày = 22.500.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là: 2.465.753 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 20.034.247 đồng.
Tổng số tiền lãi N thu được của 03 lần vay là: 53.250.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS là: 5.835.616 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 47.414.384 đồng. Số tiền gốc anh Đ còn nợ là 10.000.000 đồng.
- Vũ Thành N cho anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1974, ở TDP B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vay số tiền 10.000.000 với lãi suất là 5000 đồng/triệu/ngày vào ngày 03/01/2024. Khi vay, C1 viết giấy vay tiền và để lại giấy chứng nhận đăng ký xe máy, BKS: 88B1-376.43 mang tên Nguyễn Văn C1 để làm tin. Ngày 03/2/2024, anh C1 đến nhà N, trả cho N số tiền 1.500.000 đồng là tiền lãi của tháng 01/2024.
Tháng 02/2024, anh C1 thống nhất với N lãi suất vay là 3.333 đồng/triệu/ngày nên ngày 03/3/2024, anh C1 trả cho N số tiền 1.000.000 đồng, là tiền lãi của tháng 02/2024.
Từ ngày 03/4/2024, C1 và N thống nhất mức tiền đóng lãi là 500.000 đồng, tương ứng với lãi suất 1.700 đồng/triệu/ngày. Do vậy, vào các ngày 03/5/2024, 05/6/2024, 03/7/2024, 03/8/2024, mỗi lần anh C1 đều trả cho N số tiền 500.000 đồng là tiền lãi của một tháng = 2.500.000 đồng/ 5 tháng (từ tháng 3 đến tháng 8/2024).
Như vậy, anh C1 đã trả cho N tổng số tiền lãi 2.500.000 đồng theo mức lãi suất 3.333 đồng/triệu/ngày. Trong đó: Số tiền lãi thu theo Bộ luật dân sự là 328.767 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 2.171.233 đồng. Anh C1 còn nợ 10 triệu đồng tiền gốc vay.
Đối với số tiền lãi 2.500.000 đồng/ 5 tháng với lãi suất 1.700đ/1 triệu/ngày chưa gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/năm) nên không đề cập xử lý.
- Vũ Thành N cho anh Phạm Văn C2, sinh năm 1982 ở TDP T, phường K, thành phố V vay số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 13/6/2024 với mức lãi suất là 5000 đồng/triệu/ngày, không cắt lãi trước. Khi vay, anh C2 viết giấy vay tiền, để lại một giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 29A- 478.29 (bản phô tô) để làm tin. Đến ngày 13/8/2024, anh C2 đã trả Nam số tiền lãi 3.000.000/02 tháng. Số tiền lãi thu theo Bộ luật dân sự là 328.767 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 2.671.233 đồng. Anh C2 còn nợ N 10 triệu đồng tiền gốc vay.
- Vũ Thành N cho anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1976, ở TDP C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vay tiền 01 lần vào ngày 02/8/2024, anh S1 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất là 3.300đ/1 triệu/01 ngày. N cắt lãi trước 1.000.000 đồng là tiền lãi 01 tháng và đưa cho anh S1 số tiền 9.000.000 đồng. Khi vay, anh S1 viết 01 giấy vay nợ số tiền 10.000.000 đồng vào sổ tay của N và để lại đăng ký xe máy, BKS: 88B1-182.72 đứng tên Nguyễn Trung T2 để làm tin. Số tiền lãi thu được là 30 ngày = 1.000.000 đồng. Trong đó: Tiền lãi thu theo BLDS: 164.384đ, tiền thu lời bất chính: 835.616đ. Anh S1 còn nợ 10.000.000 đồng tiền gốc vay
Như vậy, tổng số tiền N cho vay là: 220.000.000 đồng nhưng N cắt trước tiền lãi nên tổng số tiền người vay nhận được thực tế là: 212.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc người vay đã trả là: 101.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc người vay chưa trả theo thỏa thuận vay: 119.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc người vay chưa trả theo số tiền thực tế người vay được cầm về khi vay tiền: 111.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi đã thu được là: 227.150.000 đồng, bao gồm: Tiền lãi tính theo quy định của Bộ luật dân sự (BLDS) 20% là: 29.873.973đ và tiền lãi vượt quá mức quy định theo Bộ luật dân sự (thu lời bất chính) là: 197.276.027 đồng.
Ngày 26/8/2024, anh Nguyễn Mạnh H4, sinh năm 1993 ở TDP L, phường L, thành phố V có đơn trình báo gửi Cơ quan CSĐT Công an thành phố V tố giác hành vi cho vay lãi nặng của Vũ Thành N.
Sau khi nhận được đơn trình báo, tố giác tội phạm của anh Nguyễn Mạnh H4, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã tiến hành kiểm tra, khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Thành N tại số nhà C đường M, phường L, thành phố V. Qua kiểm tra, phát hiện thu giữ những đồ vật, tài sản sau:
- - 01 quyển sổ có tên “Phiếu yêu cầu nhà hàng T6”, bên trong có nội dung vay tiền; 01 quyển sổ bìa màu xanh đã cũ, nhãn hiệu PowerLogics Vina, bên trong có nội dung vay tiền; 01 giấy vay tiền viết tay mang tên Bạch Thị Vân A đề ngày 20/12/2021 và 01 chứng minh nhân dân mang tên Bạch Thị Vân A; 01 giấy vay tiền viết tay mang tên Ngô Thị L đề ngày 14/5/2022; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 đều mang tên Ngô Thị L; 01 giấy vay tiền viết tay mang tên Phạm Thị H3 đề ngày 08/3/2024; 01 giấy chứng minh nhân dân và đăng ký xe mô tô, BKS: 19L2- 6768 đều mang tên Phạm Thị H3; 01 giấy vay tiền viết tay mang tên Nguyễn Thị Ngọc đề ngày 01/10/2023; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, giấy phép lái xe ô tô hạng B2 đều mang tên Hoàng Hữu Đ; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn C2; 01 đăng ký xe ô tô mang BKS: 29A- 478.29 mang tên Phạm Duy H5 (bản phô tô); 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Mạnh T1; 01 đăng ký xe mô tô, BKS: 88F1- 1057 mang tên Lê Văn V; 01 đăng ký xe ô tô, BKS: 88M- 000.75 mang tên Liên minh hợp tác xã tỉnh V; 01 đăng ký xe mô tô, BKS: 88B1-376.43 mang tên Nguyễn Văn C1; 01 đăng ký xe mô tô, BKS: 88B1- 246.99 mang tên Vũ Thị Minh H; 01 đăng ký xe mô tô, BKS: 88B1- 182.72 mang tên Nguyễn Trung T2; 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn M; 01 đăng ký xe mô tô ,BKS: 88B1-055.99 mang tên Nguyễn Thị Trường G; 01 đăng ký xe mô tô, BKS: 88S8- 6625 mang tên Đỗ Duy H6.
- - Tạm giữ của Vũ Thành N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel 4G màu đen, đã cũ, qua sử dụng, bên trong lắp thẻ sim số 0963.206.243 và 01 căn cước công dân mang tên Vũ Thành N.
Quá trình điều tra xác định, ngoài hành vi Vũ Thành N cho 08 người vay tiền tương ứng 17 khoản vay với lãi suất từ 108% đến 180%/năm như nêu trên thì N còn cho 07 người vay tiền với lãi suất từ 0đ đến 2.600đ/1 triệu/ 1 ngày (từ 0% đến 93%/năm) bao gồm các cá nhân sau: Trần Quốc H2, Vũ Thị Minh H, Vũ Thanh H1, Trần Thị L1, Nguyễn Quang H7, Lỗ Văn T3, Phạm Thị H3. Xét thấy, những người nêu trên vay tiền của N nhưng lãi suất cho vay không vượt quá lãi suất 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/năm) nên hành vi cho vay với lãi suất từ 0% đến 93%/năm của Nam đối với 07 cá nhân nêu trên không cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an thành phố V không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự của N đối với hành vi cho 07 cá nhân vay tiền nêu trên.
Kết quả trưng cầu giám định điện thoại và sao kê tài khoản Ngân hàng:
Tại biên bản kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Itel Magic màu đen bên trong có gắn sim điện thoại 0963.206.xxx của Vũ Thành N ngày 27/8/2024 tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố V xác định: Thông tin đăng ký thuê bao là Vũ Thành N, sinh ngày 18/02/1966, ngày kích hoạt 24/8/2020. Tại mục danh bạ có lưu số điện
thoại của Hoàng Hữu Đ, Bạch Thị Vân A và lịch sử cuộc gọi có 12 cuộc gọi đi đến số điện thoại của Vân A, 20 cuộc gọi đi đến số điện thoại của Đ từ ngày 22/8/2024 đến ngày 27/8/2024. Ngoài ra, không có thông tin gì liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng.
Ngày 25/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 2900 yêu cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại di động nhãn hiệu Itel Magic thu giữ của Vũ Thành N. Tại Kết luận giám định số 3346 ngày 27/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V xác định: Không trích xuất được nội dung tin nhắn liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng của Vũ Thành N.
Tại biên bản thu thập dữ liệu điện tử trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng gold bên trong có gắn thẻ sim số 0978.292.292 của Vũ Xuân Q (con trai N) ngày 27/8/2024 tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố V xác định: Thông tin đăng ký thuê bao là Vũ Xuân Q, sinh ngày 24/7/1994, ngày kích hoạt 29/8/2020. Kiểm tra mục truy vấn lịch sử giao dịch tài khoản Ngân hàng tại ứng dụng Smarbanking của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (MB) mà Q sử dụng trên điện thoại có nội dung: Ngày 24/8/2024 Bạch Thị Vân A chuyển vào tài khoản của Q số tiền 1.000.000 đồng; Ngày 22/8/2024 Hoàng Hữu Đ chuyển vào tài khoản của Q số tiền 2.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “trả lãi ông N”; Ngày 17/8/2024, Lê Văn M chuyển vào tài khoản của Q số tiền 3.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “trả tiền lãi”; Ngày 12/8/2024, Đỗ Mạnh T1 chuyển vào tài khoản của Q số tiền 3.000.000 đồng; Ngày 25/7/2024, Lê Văn M chuyển vào tài khoản của Q số tiền 11.300.000 đồng; Ngày 14/8/2024, Nguyễn Văn C1 chuyển khoản vào tài khoản của Q số tiền 1.600.000 đồng. Ngoài ra, không phát hiện thông tin gì khác liên quan đến việc cho vay lãi nặng của Vũ Thành N.
Quá trình điều tra xác định, Vũ Xuân Q sử dụng tài khoản số 0978292292 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M3). Đỗ Mạnh T1 sử dụng tài khoản số 9990188899969 và 9990125041979 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M3). Lê Văn M sử dụng tài khoản số 4250046718 và số 4258598888 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 (B). Bạch Thị Vân A sử dụng tài khoản số [...] của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q2 (V2). Hoàng Hữu Đ sử dụng tài khoản số 4252588368 và 4251107894 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 (B). Phạm Văn C2 sử dụng tài khoản số 6810101069999 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M3) để thực hiện giao dịch chuyển khoản tiền gốc, lãi cho Vũ Thành N. Cơ quan điều tra đã tiến hành sao kê toàn bộ lịch sử giao dịch của các số tài khoản nêu trên chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số: 20/CT-VKSND.TPVY ngày 02 tháng 02 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố Vũ Thành N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Thành N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Thành N từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024 đến ngày 02/9/2024).
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt tiền bị cáo số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
- - Đề nghị truy thu sung ngân sách Nhà nước của Vũ Thành N tổng số tiền: 170.873.973 đồng, bao gồm: 141.000.000 đồng là tiền N sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội và tiền lãi tính theo quy định của Bộ luật dân sự N đã thu của những người vay là số tiền 29.873.973đ.
- - Buộc Vũ Thành N phải trả lại tổng số tiền 197.276.028 đồng thu lời bất chính cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể: anh Lê Văn M 51.115.068 đồng; anh Hoàng Hữu Đ 47.414.384 đồng; chị Bạch Thị Vân A 41.780.822 đồng; anh Đỗ Mạnh T1 18.698.631 đồng; anh Nguyễn Văn S1 835.616 đồng; anh Nguyễn Văn C1 2.171.233 đồng; anh Phạm Văn C2 2.671.233 đồng; anh Phùng Quang M1 32.589.041 đồng.
- - Truy thu sung ngân sách Nhà nước của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với số tiền gốc những người liên quan chưa trả cho bị cáo N là 111.000.000 đồng, cụ thể: anh Lê Văn M 20.000.000 đồng; anh Hoàng Hữu Đ 10.000.000 đồng; chị Bạch Thị Vân A 25.000.000 đồng; anh Đỗ Mạnh T1 17.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn S1 9.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn C1 10.000.000 đồng; anh Phạm Văn C2 10.000.000 đồng; anh Phùng Quang M1 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm anh Phùng Quang M1, chị Bạch Thị Vân A, anh Lê Văn M, anh Đỗ Mạnh T1, anh Hoàng Hữu Đ, anh Nguyễn Văn C1, anh Phạm Văn C2, anh Nguyễn Văn S1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đều đã trình bày và xác nhận về thời gian vay tiền, số tiền vay, số tiền đã trả, số tiền lãi và số tiền còn nợ như bị cáo N khai là đúng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà và trong quá trình điều tra, bị cáo Vũ Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến ngày 27/8/2024, tại Tổ dân phố B, phường L, thành phố V, Vũ Thành N đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với lãi suất từ 3.000 đồng - 5.000 đồng/triệu/ngày (tương ứng từ 108% đến 180%/năm, đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất là 20%/năm được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự). Cụ thể, số tiền gốc ban đầu N dùng để cho 08 người vay tương ứng với 17 khoản vay là 10.000.000 đồng, do số tiền trên được quay vòng vốn nhiều lần, khi người vay trước trả số tiền gốc và lãi Nam lại tiếp tục cho người vay sau vay tiếp. Do đó, số tiền N sử dụng để cho vay lãi, bao gồm số tiền gốc ban đầu sử dụng vào việc cho vay cộng với số tiền lãi đã thu được để tiếp tục quay vòng vốn được xác định là thời điểm số tiền gốc cho người vay cao nhất là 30.000.000 đồng và số tiền gốc thực tế người vay chưa trả theo số tiền được cầm về khi vay là 111.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi đã thu được là 227.150.000 đồng, bao gồm: Tiền lãi cao nhất tính theo quy định của BLDS là 29.873.973 đồng và tổng số tiền thu lời bất chính là: 197.276.027 đồng.
Hành vi của bị cáo Vũ Thành N cho 08 đối tượng vay 17 khoản vay với mức lãi suất cho vay thấp nhất là 108%/năm, cao nhất là tới 180%/năm, gấp từ 5,4 lần đến 9 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 2015, bị cáo thu lợi bất chính số tiền 197.276.027 đồng.
Hành vi của Vũ Thành N đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Cụ thể, khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính
từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng ... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[3] Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng mà còn là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn trong đời sống xã hội; đặc biệt là trong những năm gần đây tình trạng cho vay nặng lãi, lãi suất quá cao có diễn biến hết sức phức tạp, làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Từ đó dẫn đến tình trạng vỡ nợ hoặc tình trạng siết nợ diễn ra gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của người dân nói riêng và trật tự, an toàn xã hội nói chung. Do vậy, cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 05 lần bị xét xử về về tội “trộm cắp tài sản công dân” và 03 lần bị xử phạt bị xử phạt vi phạm hành chính. Mặc dù, bị cáo đã chấp hành xong quyết định và bản án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục có hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt là tù giam như mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố đẻ là ông Vũ Mạnh T4 được tặng thưởng huy chương chiến thắng hạng nhất, huy chương kháng chiến hạng nhì, có anh trai Vũ Thanh H8 là Liệt sỹ và hiện bị cáo là người thờ cúng Liệt sỹ. Ngoài ra, bị cáo là người đang bị bệnh tăng đường huyết, không đặc hiệu. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hành vi cho vay lãi nặng của bị cáo nhằm mục đích thu lời bất chính. Theo khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, phạt bị cáo số tiền như đại diện Viện kiểm sát đề nghị nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 quyển sổ “Phiếu yêu cầu nhà hàng T6”, 01 quyển sổ màu xanh nhãn hiệu PowerLogics Vina; 01 giấy vay tiền viết tay mang tên Bạch Thị Vân A đề ngày 20/12/2021; 01 giấy vay tiền viết tay mang tên Ngô Thị L đề ngày 14/5/2022; 01 giấy vay tiền viết tay mang tên Phạm Thị H3 đề ngày 08/3/2024; 01 giấy vay tiền viết tay mang tên Nguyễn Thị Ngọc đề ngày 01/10/2023. Đây là vật chứng, tài liệu liên quan đến hoạt động cho vay lãi nặng của Vũ Thành N cần lưu trong hồ sơ vụ án.
- - Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Itel màu đen được lắp thẻ sim số 0963206243 của Vũ Thành N, quá trình điều tra xác định, N sử dụng chiếc điện thoại trên để liên lạc đôn đốc người vay trả tiền, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu bán phát mại sung công quỹ nhà nước.
- - Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Bạch Thị Vân A, 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Ngô Thị L, 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn M, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và giấy phép lái xe ô tô hạng B2 đều mang tên Hoàng Hữu Đ, 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn C2, 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Mạnh T1 quá trình điều tra xác định: Là giấy tờ của chị Vân A, chị L, anh M, anh Đ, anh T1, anh C2 sử dụng để thế chấp vay tiền của N, cần trả lại cho những người nêu trên là phù hợp.
- - Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 29A- 478.29 bản phô tô mang tên Phạm Duy H5 ở S, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội là của Phạm Văn C2 để lại làm tin khi vay tiền của N, quá trình điều tra C2 khai: Ngày 12/6/2024, C2 gặp một người nam giới tên H5 ở thành phố Hà Nội đặt vấn đề muốn bán xe ô tô, BKS: 29A – 478.29 cho C2 nhưng do C2 không có tiền đặt cọc mua xe nên H5 đã đưa bản phô tô giấy chứng nhận đăng ký xe để C2 đi vay tiền. Sau khi vay được tiền của N thì C2 không liên hệ được với H5, C2 không có thông tin gì về H5 và khẳng định H5 không liên quan đến việc vay tiền của C2. Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã tiến hành xác minh tại Công an phường Y, quận H nhưng không có công dân tên Phạm Duy H5. Do vậy, cần lưu trong hồ sơ vụ án bản phô tô giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nêu trên.
- Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, BKS: 88F1- 1057 mang tên Lê Văn V, quá trình điều tra xác định: Năm 2014, ông Lê Văn V, sinh năm 1960 ở thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đi chơi trên địa bàn thành phố V thì bị rơi giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 88F1- 1057 và không tìm lại được. Đến năm 2024, có một nam giới (không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ) đến gặp Đỗ Mạnh T1 đặt vấn đề mua bán xe và đưa giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, BKS: 88F1- 1057 để làm tin. Do cần tiền để mua xe nên T1 sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe trên để đi vay tiền của N nhưng sau đó người nam giới trên không đến gặp hay liên lạc với T1. Xét thấy, giấy đăng ký xe mô tô, BKS: 88F1 – 1057 là giấy tờ của ông V, không liên
quan đến hành vi cho vay lãi của N, nên cần trả lại giấy đăng ký xe trên cho ông V là phù hợp.
- Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, BKS: 88M- 000.75 mang tên L2 hợp tác xã tỉnh V, quá trình điều tra xác định: anh Hoàng Hữu Đ là cán bộ của Liên minh hợp tác xã tỉnh V, được đơn vị giao quản lý sử dụng xe ô tô BKS: 88M- 000.75 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên anh Đ sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô này để thế chấp vay tiền của N. Liên minh hợp tác xã tỉnh V xác định không bị thiệt hại từ việc Đ sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô để thế chấp vay tiền và không có yêu cầu đề nghị gì. Do vậy, đề nghị trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, BKS: 88M – 000.75 cho Đ để quản lý, sử dụng theo nhiệm vụ Liên minh hợp tác xã tỉnh V đã giao cho Đ.
- Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, BKS 88B-376.43 mang tên Nguyễn Văn C1, quá trình điều tra xác định: Giấy tờ trên là tài sản hợp pháp của anh C1 sử dụng để thế chấp vay tiền của N, cần trả lại cho anh C1.
- Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 88B1- 246.99 mang tên Vũ Thị Minh H, quá trình điều tra xác định: chị H thế chấp giấy đăng ký xe để vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 2.666đ/ 1 triệu/ 1 ngày, lãi suất cho vay không vượt quá lãi suất 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định của BLDS. Do vậy, cần trả lại đăng ký xe nêu trên cho chị H.
- Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, BKS: 88B1- 182.72 mang tên Nguyễn Trung T2, quá trình điều tra xác định: Năm 2016, anh Nguyễn Trung T2, sinh năm 1991 ở TDP N, phường L, thành phố V mua mới và đăng ký xe máy đứng tên anh. Khoảng năm 2021, anh T2 đã bán xe máy trên cho anh Nguyễn Văn S1. Sau đó, anh S1 đã đưa giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, BKS: 88B1 – 182.72 cho N để làm tin khi vay tiền nên cần trả lại cho S1.
- Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 88B1- 055.99 đứng tên Nguyễn Thị Trường G, quá trình điều tra xác định: Chị Nguyễn Thị Trường G, sinh năm 1987 ở TDP X, phường L, thành phố V là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô trên. Năm 2021, chị G đã đưa giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, BKS: 88B1 - 055.99 cho anh Vũ Thanh H1, sinh năm 1988 (là chồng của chị G) để thế chấp vay số tiền 20.000.000 đồng của N, lãi suất 0đ/ 1 triệu/ 1 ngày, lãi suất cho vay không vượt quá lãi suất 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định của BLDS. Do vậy, cần trả lại đăng ký xe nêu trên cho anh H1.
- Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 88S8- 6625 đứng tên Đỗ Duy H6, quá trình điều tra xác định: Năm 2008, anh Đỗ Duy H6, sinh năm 1977 ở TDP L, phường L, thành phố V mua mới và đăng ký đứng tên anh là chủ sở hữu hợp pháp. Năm 2015, anh H6 đã bán xe máy trên cho anh Trần Quốc H2, sinh năm 1971 ở TDP B, phường L, thành phố V. Sau đó, anh H2 sử dụng giấy chứng nhận đăng ký
mô tô, BKS: 88S8- 6625 thế chấp vay số tiền 45.000.000 đồng của N, lãi suất 2000 đồng/1 triệu/1 ngày, lãi suất cho vay không vượt quá lãi suất 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định của BLDS. Do vậy, cần trả lại đăng ký xe nêu trên cho anh H2.
Đối với căn cước công dân của Vũ Thành N, là giấy tờ phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của N, không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho N.
Đối với giấy chứng minh nhân dân và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, BKS: 19L2- 6768 đều mang tên Phạm Thị H3, sinh năm 1979 ở ngõ A đường T, phường L, thành phố V, quá trình điều tra N khai: Chị H3 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 0 đồng/1 triệu/1 ngày, khi vay tiền thế chấp CMND và đăng ký xe đều mang tên H3. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra triệu tập, xác minh xác định hiện nay chị H3 vắng mặt tại địa phương, đi đâu làm gì địa phương không nắm được. Do vậy, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ CMND và đăng ký xe mô tô nêu trên để xác minh, làm rõ xử lý sau.
[7]. Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:
Căn cứ hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay (tiền gốc) được xác định là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Còn đối với khoản tiền lãi tương ứng với lãi suất 20%/năm tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự nhưng đây cũng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm. Do đó để đảm bảo cho yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm thì cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với khoản tiền này. Riêng khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm của tất cả những người vay trong vụ án này, quá trình điều tra xác định, các khoản tiền vay này người vay đều sử dụng vào mục đích cá nhân, sinh hoạt cuộc sống nên Hội đồng xét xử xét thấy đây là khoản tiền mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay nên cần được trả lại cho người vay tiền. Cụ thể:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định tổng số tiền gốc ban đầu Vũ Thành N dùng để cho vay lãi là: 10.000.000 đồng, do số tiền trên được quay vòng vốn nhiều lần, khi người vay trước trả số tiền gốc và lãi Nam lại tiếp tục cho người vay sau vay tiếp. Do vậy số tiền Vũ Thành N sử dụng để cho vay lãi, bao gồm số tiền gốc ban đầu sử dụng vào việc cho vay cộng với số tiền lãi đã thu được để tiếp tục quay vòng vốn được xác định là thời điểm số tiền gốc cho người vay cao nhất là: 30.000.000 đồng và số tiền gốc thực tế người vay chưa trả theo số tiền được cầm về khi vay là: 111.000.000 đồng. Trong đó:
- - Số tiền cho vay theo thỏa thuận là 220.000.000 đồng.
- - Số tiền gốc thực tế người vay được cầm về là 212.000.000 đồng.
- - Số tiền gốc người vay đã trả là 101.000.000 đồng.
- - Tổng số tiền gốc người vay chưa trả theo thỏa thuận là 119.000.000 đồng.
- - Tổng số tiền gốc người vay chưa trả theo số tiền gốc thực tế được cầm về khi vay là 111.000.000 đồng.
- - Tổng số tiền lãi đã thu được là 227.150.000 đồng. Trong đó:
- + Tiền lãi tính theo quy định của Bộ luật dân sự là 29.873.973đ.
- + Tổng số tiền thu lời bất chính là: 197.276.027đ.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án nhận được một số đơn trình bày, do chính bị cáo N xuất trình thể hiện việc bị cáo đã trực tiếp hoàn trả số tiền thu lời bất chính cho 07 người liên quan gồm: anh Nguyễn Văn S1, anh Nguyễn Văn C1, chị Bạch Thị Vân A, anh Phùng Quang M1, anh Hoàng Hữu Đ, anh Phạm Văn C2 và anh Lê Văn M. Đồng thời, những người liên quan nêu trên đều có đơn xác nhận về việc đã nhận được số tiền lãi thu lời bất chính mà bị cáo N thu của những người này. Tuy nhiên, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc trên dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa nên chưa đủ căn cứ để xác định được việc bị cáo N đã hoàn trả số tiền thu lời bất chính và số tiền thực tế bị cáo N đã hoàn trả cho những người trên để xem xét trách nhiệm dân sự của bị cáo N. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy vẫn cần buộc bị cáo N phải trả số tiền thu lời bất chính cho những người liên quan và tại phiên tòa trả lại bị cáo N bản gốc đơn trình bày của 07 người liên quan để sang giai đoạn thi hành án dân sự bị cáo và người liên quan thống nhất giải quyết.
Từ phân tích trên, cần truy thu, tịch thu của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như số tiền buộc bị cáo phải trả lại những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cụ thể như sau:
- Đối với anh Lê Văn M vay 06 lần với tổng số tiền 80.000.000 đồng, số tiền thực tế khi vay được nhận là 80.000.000 đồng. Tiền lãi thu theo Bộ luật dân sự là: 6.284.932 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 51.115.068 đồng. Anh M đã trả được 60.000.000 đồng tiền gốc. Số tiền gốc còn nợ là: 20.000.000 đồng. Do vậy cần:
- - Truy thu của Vũ Thành N số tiền 66.284.932 đồng.
- - Buộc N phải trả lại cho anh M số tiền thu lời bất chính: 51.115.068 đồng;
- - Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền gốc anh M còn nợ chưa trả cho N: 20.000.000 đồng.
- Đối với anh Hoàng Hữu Đ vay 03 lần với tổng số tiền 30.000.000 đồng, số tiền gốc thực tế anh Đ được cầm về khi vay là 30.000.000 đồng. Số tiền lãi thu theo BLDS là: 5.835.616 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 47.414.384 đồng. Anh Đ đã trả 20.000.000 đồng tiền gốc. Số tiền gốc còn nợ là 10.000.000 đồng. Do vậy cần:
- - Truy thu của Vũ Thành N tổng số tiền 25.835.616 đồng.
- - Buộc N phải trả lại cho anh Đ số tiền thu lời bất chính: 47.414.384 đồng.
- - Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền gốc anh Đ còn nợ chưa trả cho N: 10.000.000 đồng.
- Đối với chị Bạch Thị Vân A vay 02 lần với tổng số tiền vay 40.000.000 đồng, số tiền gốc thực tế chị Vân A được cầm về khi vay là 36.000.000 đồng. Số tiền lãi thu theo Bộ luật dân sự là: 8.219.178 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 41.780.822 đồng. Chị Vân A đã trả 11.000.000 đồng. Chị Vân A còn nợ gốc 25.000.000 đồng (theo số tiền thực tế khi vay được cầm). Do vậy cần:
- - Truy thu của Vũ Thành N số tiền 19.219.178 đồng đồng.
- - Buộc N phải trả lại cho chị Vân A số tiền thu lời bất chính: 41.780.822 đồng.
- - Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền gốc chị Vân A còn nợ chưa trả cho N là 25.000.000 đồng.
- Đối với anh Đỗ Mạnh T1 vay 02 lần với tổng số tiền vay 30.000.000 đồng, số tiền gốc thực tế anh T1 được cầm về khi vay là 27.000.000 đồng. Số tiền lãi thu theo Bộ luật dân sự là: 2.301.369 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 18.698.631 đồng. Anh T1 đã trả 10.000.000 đồng. Anh T1 còn nợ gốc 17.000.000 đồng (theo số tiền thực tế khi vay được cầm về). Do vậy cần:
- - Truy thu của Vũ Thành N số tiền 12.301.369 đồng.
- - Buộc N phải trả lại cho anh T1 số tiền thu lời bất chính: 18.698.631 đồng.
- - Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền gốc anh T1 còn nợ chưa trả cho N là 17.000.000 đồng.
- Đối với anh Nguyễn Văn S1 vay số tiền 10.000.000 đồng, số tiền gốc thực tế anh S1 được cầm về khi vay là 9.000.000 đồng. Số tiền lãi thu theo BLDS là: 164.384 đồng, tiền thu lời bất chính là: 835.616 đồng. Anh S1 chưa trả gốc. Anh S1 còn nợ gốc 9.000.000 đồng (theo số tiền thực tế khi vay được cầm về). Do vậy cần:
- - Truy thu của Vũ Thành N số tiền 164.384 đồng.
- - Buộc N phải trả lại cho anh S1 số tiền thu lời bất chính 835.616đ.
- - Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền anh S1 còn nợ chưa trả cho N là 9.000.000 đồng.
- Đối với anh Nguyễn Văn C1 vay số tiền 10.000.000 đồng, số tiền gốc thực tế được cầm về khi vay là 10.000.000 đồng. Số tiền lãi thu theo BLDS là: 328.767 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 2.171.233 đồng. Anh C1 chưa trả gốc. Số tiền gốc còn nợ gốc 10.000.000 đồng. Do vậy cần:
- - Truy thu của Vũ Thành N số tiền 328.767 đồng.
- - Buộc N phải trả lại cho anh C1 số tiền thu lời bất chính: 2.171.233đ.
- - Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền gốc anh C1 còn nợ chưa trả cho N là 10.000.000 đồng.
- Đối với anh Phạm Văn C2 vay số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền gốc thực tế được cầm về khi vay là 10.000.000 đồng. Số tiền lãi thu theo BLDS: 328.767 đồng. Số tiền thu lời bất chính: 2.671.233đ. Anh C2 chưa trả gốc. Số tiền còn nợ gốc 10.000.000 đồng. Do vậy cần:
- - Truy thu của Vũ Thành N số tiền 328.767 đồng.
- - Buộc N phải trả lại cho anh C2 số tiền thu lời bất chính: 2.671.233đ.
- - Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền gốc anh C2 còn nợ chưa trả cho N 10.000.000 đồng.
- Đối với anh Phùng Quang M1 vay số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền gốc thực tế được cầm về 10.000.000 đồng. Số tiền lãi thu theo BLDS là: 6.410.959 đồng. Số tiền thu lời bất chính là: 32.589.041 đồng. Anh M1 chưa trả gốc. Số tiền còn nợ gốc 10.000.000 đồng. Do vậy cần:
- - Truy thu của Vũ Thành N số tiền 6.410.959 đồng.
- - Buộc N phải trả lại cho anh M1 số tiền thu lời bất chính: 32.589.041 đồng.
- - Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền gốc anh M1 còn nợ chưa trả cho N 10.000.000 đồng.
Như vậy, cần truy thu sung ngân sách Nhà nước của Vũ Thành N tổng số tiền: 170.873.972 đồng, bao gồm: 141.000.000đ là tiền N sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội và tiền lãi tính theo quy định của Bộ luật dân sự N đã thu của những người vay là số tiền 29.873.972 đồng; Buộc Vũ Thành N phải trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tổng số tiền thu lời bất chính là 197.276.027 đồng, trong đó: Trả lại cho anh Lê Văn M số tiền 51.115.068 đồng; trả lại cho anh Hoàng Hữu Đ 47.414.384 đồng; trả lại cho chị Bạch Thị Vân A 41.780.822 đồng; trả lại cho anh Đỗ Mạnh T1 18.698.631 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Văn S1 835.616 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Văn C1 2.171.233 đồng; trả lại cho anh Phạm Văn C2 2.671.233 đồng; trả lại cho anh Phùng Quang M1 32.589.041 đồng; Truy thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền vay chưa trả của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tổng số tiền là 111.000.000 đồng, trong đó: Truy thu của anh Lê Văn M 20.000.000 đồng; anh Hoàng Hữu Đ 10.000.000 đồng; chị Bạch Thị Vân A 25.000.000 đồng; anh Đỗ Mạnh T1 17.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn S1 9.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn C1 10.000.000 đồng; anh Phạm Văn C2 10.000.000 đồng; anh Phùng Quang M1 10.000.000 đồng.
[8] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác:
Đối với Vũ Xuân Q là con trai của N, sinh sống cùng N tại số nhà C đường M, TDP B, phường L, thành phố V. Từ năm 2020, Q mở cửa hàng “Quang Thắng Auto” kinh doanh sửa chữa nội thất ô tô tại nhà. Để tiện phục vụ công việc, Q đăng ký số tài khoản ngân hàng M3 và tạo thành mã QR kèm thông tin tài khoản, dán vào tường nhà để phục vụ khách sửa xe có nhu cầu thanh toán bằng hình thức chuyển khoản. Tuy nhiên, khi N thực hiện hành vi cho vay lãi, do N đã cao tuổi, mắt kém, không dùng được điện thoại thông minh nên N không đăng ký sử dụng số tài khoản ngân hàng mà lấy thông tin tài khoản ngân hàng của Q, cung cấp cho người vay để chuyển trả tiền cho N khi người vay có nhu cầu muốn chuyển khoản trả tiền lãi, gốc. Qua điều tra xác định có 05 người chuyển khoản tổng số tiền 19.900.000 đồng vào số tài khoản của Q, chỉ có 02 người ghi nội dung chuyển khoản là “trả lãi ông N”, còn lại đều không ghi nội dung chuyển khoản. Sau khi có người vay chuyển tiền đến tài khoản của Q, thì Q đều hỏi N là cho vay tiền với lãi suất bao nhiêu, N nói cho vay tiền với lãi suất thấp chỉ từ 1000 đồng đến 1500 đồng/triệu/ngày nên Q không hỏi gì thêm và rút tiền trả cho N. Quá trình sinh sống cùng nhau, Q tập trung kinh doanh cửa hàng, không ăn uống, sinh hoạt chung cùng N nên không biết việc N gặp khách vay tiền thỏa thuận lãi suất cụ thể ra sao. Do được N nhờ tài khoản để người vay chuyển tiền gốc, lãi nên Q đã nhiều lần khuyên bảo N dừng việc cho vay lãi nhưng N không đồng ý. Bản thân Q không biết N cho bao nhiêu người vay tiền, không biết thông tin của người vay tiền, số tiền cho vay, lãi suất cho vay, số tiền lãi đã thu được. Q không cung cấp tiền cho vay, không giúp sức và không được hưởng lợi gì từ việc N cho vay lãi. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an thành phố V không đề cập xử lý Q là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vũ Thành N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Thành N 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024 đến ngày 02/9/2024.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Vũ Thành N số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2021/ND-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
- - Truy thu sung ngân sách Nhà nước của Vũ Thành N tổng số tiền: 170.873.972 đồng, bao gồm: 141.000.000 đồng là tiền N sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội và tiền lãi tính theo quy định của Bộ luật dân sự N đã thu của những người vay là số tiền 29.873.972 đồng.
- - Buộc Vũ Thành N phải trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tổng số tiền thu lời bất chính là 197.276.027 đồng, trong đó: Trả lại cho anh Lê Văn M số tiền 51.115.068 đồng; trả lại cho anh Hoàng Hữu Đ 47.414.384 đồng; trả lại cho chị Bạch Thị Vân A 41.780.822 đồng; trả lại cho anh Đỗ Mạnh T1 18.698.631 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Văn S1 835.616 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Văn C1 2.171.233 đồng; trả lại cho anh Phạm Văn C2 2.671.233 đồng; trả lại cho anh Phùng Quang M1 32.589.041 đồng.
- - Truy thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền vay chưa trả của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tổng số tiền là 111.000.000 đồng, trong đó: Truy thu của anh Lê Văn M 20.000.000 đồng; anh Hoàng Hữu Đ 10.000.000 đồng; chị Bạch Thị Vân A 25.000.000 đồng; anh Đỗ Mạnh T1 17.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn S1 9.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn C1 10.000.000 đồng; anh Phạm Văn C2 10.000.000 đồng; anh Phùng Quang M1 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu bán phát mại sung công quỹ 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Itel 4G màu đen, số IMEI: 356524291430683.
- - Trả lại cho bị cáo Vũ Thành N 01 căn cước công dân mang tên Vũ Thành N.
- - Trả lại cho chị Bạch Thị Vân A 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Bạch Thị Vân A.
- - Trả lại cho chị Ngô Thị L 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 đều mang tên Ngô Thị L.
- - Trả lại cho anh Lê Văn M 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn M.
- - Trả lại cho anh Hoàng Hữu Đ 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 đều mang tên Hoàng Hữu Đ.
- - Trả lại cho anh Phạm Văn C2 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn C2.
- - Trả lại cho anh Đỗ Mạnh T1 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Mạnh T1.
- - Trả lại cho ông Lê Văn V 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 88F1- 1057 mang tên Lê Văn V.
- - Trả lại cho Liên minh Hợp tác xã tỉnh V 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 88M-000.75 mang tên Liên minh Hợp tác xã tỉnh V.
- - Trả lại cho anh Nguyễn Văn C1 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 88B1-367.43 mang tên Nguyễn Văn C1.
- - Trả lại cho chị Vũ Thị Minh H 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 88B1- 246.99 mang tên Vũ Thị Minh H.
- - Trả lại cho anh Nguyễn Văn S1 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 88B1-182.72 mang tên Nguyễn Trung T2.
- - Trả lại cho anh Vũ Thanh H1 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 88E1-055.99 mang tên Nguyễn Thị Trường G.
- - Trả lại cho anh Trần Quốc H2 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 88S8- 6625 mang tên Đỗ Duy H6.
(Vật chứng, tài sản có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng, tài sản ngày 06/3/2025 của cơ quan cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên).
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Thành N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Văn Tuấn |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thành N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
