|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HSST Ngày: 27/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh
Các Hội thẩm nhân dân:+ Ông Hoàng Sỹ Lĩnh
+ Bà Ngô Thị Luân
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng - là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Phương Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Bàn Văn K; sinh năm: 1996; tại: Đắk Nông; Nơi đăng ký HKTT: thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 07/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Phụ V và bà Bàn Thị M; Tiền án; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Hoàng Văn C; sinh năm: 1981; tại: Cao Bằng; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 04/10; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C1 và bà Hoàng Thị P (Cả hai đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Thu H, bị cáo có 02 người con, sinh năm 2004 và sinh năm: 2008; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2
- Hoàng Vĩ Đ; sinh năm: 1981; tại: Lạng Sơn; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 04/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Ở và bà Hoàng Thị H1 (Cả hai đều đã chết); có vợ là Lý Thị H2, bị cáo có 02 người con sinh năm 2004 và năm 2008; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Kiều Duy L; sinh năm: 1974; tại: Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 6/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Duy N và bà Nguyễn Thị N1; có vợ là Hà Thị T; bị cáo có 02 người con sinh năm 2001 và năm 2005; Tiền án: Tại bản án số 114/2023/HSST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt bị cáo 30.000.000đồng về tội: “Đánh bạc” tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Lý Văn B; sinh năm: 1973; tại: Cao Bằng; Nơi đăng ký HKTT: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 10/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn T1, đã chết và bà Lục Thị N2; có vợ là Lý Thị H3, bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995 và nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Phan Văn T2; sinh năm: 1964; tại: Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 7/10; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T3 và bà Nguyễn Thị D (Cả hai đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị L1, bị cáo có 02 người con, sinh năm 1991 và sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Nguyễn Thị V1, sinh năm: 1957.
Địa chỉ: thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8h ngày 30/12/2024, Hoàng Vĩ Đ, Hoàng Văn C, Bàn Văn K ngồi uống cà phê tại quán N3 thuộc thôn K, xã T, huyện L. Tại đây, Đ, C, K gặp Phan Văn T2 cũng đang uống cà phê. Sau đó cả 04 người cùng rủ nhau đi xuống nhà bà Nguyễn Thị V1 thuộc thôn K, xã T để ngồi chơi và uống nước. Khi đến nhà bà V1 thì thấy không có ai trông coi, cửa không đóng nên tất cả đi vào phòng khách của nhà bà V1 để ngồi chơi. Tại đây, cả nhóm thấy có 01 chiếu nhựa đã trải sẵn và 01 bộ bài tú lơ khơ để trên tủ nên rủ nhau cùng đánh bạc (hình thức là đánh liêng) được thua bằng tiền mặt. Đ là người lấy bộ bài có sẵn trên tủ rồi cùng với K, T2, C chơi đánh bạc. Khi đánh được khoảng 03 ván thì có Kiều Duy L cũng đến nhà bà V1 chơi. Luyến thấy Đ, K, T2, C đang chơi đánh liêng nên cũng ngồi vào đánh bạc cùng. Tất cả 05 người cùng nhau chơi đánh bạc được khoảng 10 phút sau thì có Lý Văn B cũng đến nhà bà V1 chơi. Bộ thấy Đ, K, T2, C, L đang chơi đánh bạc nên Bộ vào chơi đánh bạc cùng. Cả 06 người gồm: Đ, K, T2, C, Bộ, L chơi đánh bạc dưới hình thức đánh L2 thắng thua bằng tiền mặt đến khoảng 11h cùng ngày thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Tổng số tiền thu tại chiếu bạc trước mặt các đối tượng là 8.000.000 (tám triệu đồng), tổng số tiền thu trên người các đối tượng là 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Quá trình đánh bạc, Phan Văn T2 mang theo số tiền 3.550.000 đồng và lấy ra số tiền 500.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc còn số tiền 3.050.000 đồng thì T2 không sử dụng vào mục đích đánh bạc do đây là số tiền của người dân đóng góp để sửa đường bê tông cho thôn (T2 là trưởng thôn K); Bàn Văn K mang theo số tiền 2.200.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này vào mục đích đánh bạc; Hoàng Văn C mang theo số tiền 1.740.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này vào mục đích đánh bạc, Lý Văn B mang theo số tiền 1.260.000 đồng lấy ra số tiền 560.000 đồng vào mục đích đánh bạc còn số tiền 700.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc mà cất riêng để cho vợ là bà Lý Thị H3, sinh năm: 1974, nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng đi đám cưới; Kiều Duy L mang theo số tiền 1.300.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.000.000 đồng. Quá trình tham gia đánh bạc, không có ai thu xâu, cầm cố tài sản, cho vay, canh gác, rủ rê để tổ chức cho người khác tham gia đánh bạc nhằm thu lợi bất chính.
4
Cách thức đánh bạc: Các đối tượng sử dụng bộ bài tây 52 lá và chia đều cho mỗi người 03 lá bài và quy định mỗi người đặt cược số tiền ban đầu (gọi là đặt nước) là 10.000 đồng, tố thấp nhất là 60.000 đồng, cao nhất là 200.000 đồng. Sau khi nhận được 3 lá bài thì người chơi sẽ đặt cược thêm tùy thuộc vào 3 lá bài được chia. Người chia bài sẽ tiến hành chơi đầu tiên và theo chiều ngược kim đồng hồ. Tới lượt mình thì người chơi sẽ có 3 lựa chọn là: Tố: Khi thấy 3 lá bài của mình cao điểm, khả năng giành phần thắng cao thì có thể chọn tố và cược thêm tiền. Theo: khi thấy người chơi trước tố thì người chơi tiếp theo có quyền theo hoặc là không theo (bỏ cuộc chịu thua); B1: Người chơi từ bỏ không tham gia vào cuộc chơi và chấp nhận mất hết số tiền đã đặt cược lúc đầu. Ván bài kết thúc khi không ai tố. Nếu như cả ván không ai theo, người tố sẽ là người chiến thắng, ván bài người đó được giấu kín. Còn nếu ván bài có ít nhất là 2 người theo thì 2 người đó cần hạ bài để có thể so điểm. Bài của người nào điểm cao sẽ là người chiến thắng.
Các đối tượng quy định với nhau như sau: Sáp: Bộ bài có 3 cây cùng giá trị. Trong đó, 2 là nhỏ nhất và A (Át) là lớn nhất. Chẳng hạn như 4 (tép), 4 (bích) và 4 (cơ); Liêng: 3 cây liên tiếp tính từ A (Á) đến K. Bộ có số to hơn thì sẽ mạnh hơn hoặc nếu trong trường hợp bộ bằng nhau thì so sánh về chất theo thứ tự mạnh giảm dần (cơ) > (rô) > (tép) > (bích); B: 3 cây toàn đầu người (J, Q, K), không tính là bộ liêng liên tiếp JQK. Nếu các bộ bài có cùng Ba T4 thì cũng xét về chất để xem ai người thắng. Trường hợp khác thì sẽ dựa vào tổng điểm 3 cây bài. Trong đó, lá bài 2 - 10 sẽ tính số điểm tương ứng, cây A (Át) sẽ tính là 1 điểm, J, Q và K sẽ tính là 10 điểm. Trong đó số 9 là lớn nhất và số 1 được coi là nhỏ nhất.
5
Vật chứng, tài sản đồ vật thu giữ:
- - Thu giữ 01 (một) bộ bài tây 52 lá, 01 chiếu nhựa màu đỏ vàng trắng.
- - Thu giữ trên chiếu trước mặt Hoàng Văn C số tiền là 3.640.000 đồng và trên người 01 điện thoại SamSung A04s, màu đen, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ trên chiếu trước mặt Hoàng Vĩ Đ số tiền là 1.950.000 đồng và trên người 01 điện thoại Oppo A95, màu xanh, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ trên chiếu trước mặt Phan Văn T2 số tiền là 1.570.000 đồng; trên người số tiền là 3.050.000₫ (Ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại Oppo A55, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ trên chiếu trước mặt Bàn Văn K số tiền là 240.000 đồng và trên người 01 điện thoại Iphone 11, màu xanh, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong
- - Thu giữ trên chiếu trước mặt Kiều Duy L số tiền là 60.000 đồng và trên người 01 điện thoại Oppo A9 màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ trên chiếu trước mặt Lý Văn B số tiền là 540.000 đồng; trên người số tiền là 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại Sam sung A13, màu đen đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ tại khu vực sân của nhà bà V1 các phương tiện gồm: 01 (một) xe mô tô biển số 49V1 – 3265, nhãn hiệu Dream; 01 (một) xe mô tô biển số 49D1 – 391.32, nhãn hiệu Dream.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử các bị can Hoàng Văn C, Lý Văn B, Bàn Văn K, Hoàng Vĩ Đ, Phan Văn T2, Kiều Duy L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
6
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Hoàng Văn C, Lý Văn B, Bàn Văn K, Hoàng Vĩ Đ, Phan Văn T2, Kiều Duy L về tội “Đánh bạc” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Kiều Duy L từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 vào thời gian chấp hành án phạt tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Hoàng Vĩ Đ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện L nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Bàn Văn K, Hoàng Văn C mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện L nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Áp dung khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Bàn Văn K, Hoàng văn C mỗi bị cáo từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt phạt tiền bị cáo Phan Văn T2 từ 30.000.000đồng đến 35.000.000đồng, xử phạt phạt tiền bị cáo Lý Văn B từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 8.000.000đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu nhựa màu đỏ - vàng đã qua sử dụng được dán niêm phong có chữ ký của những người tham gia và đóng dấu đỏ của Công an xã T, 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng được đựng trong 01 phong bì bưu điện màu vàng có chữ ký của những người tham gia và đóng dấu đỏ của Công an xã T. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo xác định quá trình điều tra các bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Các bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận vào khoảng từ 08 giờ 30 phút đến 11 giờ 00 phút ngày 30/12/2024, các bị cáo Bàn Văn K, Hoàng Văn C, Hoàng Vĩ Đ, Kiều Duy L, Lý Văn B, Phan Văn T2 thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh “liêng” thắng thua bằng tiền tại nhà bà Nguyễn Thị V1 thuộc thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng với mức sát phạt thấp nhất là 60.000 đồng và cao nhất là 200.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép Cơ quan điều tra đã chứng minh được là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, tang vật thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Bàn Văn K, Hoàng Văn C, Hoàng Vĩ Đ, Kiều Duy L, Lý Văn B, Phan Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý nhằm tước đoạt tiền bạc của nhau là hành vi vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội nên nhà nước nghiêm cấm đánh bạc dưới mọi hình thức. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và nếp sống văn minh tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn gia đình và các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi đã thực hiện.
8
[4] Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau từ trước, được thể hiện qua vai trò của từng bị cáo trong vụ án thông qua hành vi cụ thể như sau: tại phiên tòa các bị cáo đều khai báo sau khi xuống nhà bà V1 chơi tại đây các bị cáo thấy chiếu đã trải sẵn và có một bộ bài tú lơ khơ để trên tủ nên các bị cáo rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh liêng ăn thua bằng tiền thì tất cả mọi người đều đồng ý.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án cụ thể như sau: bị cáo Bàn Văn K có số tiền là 2.200.000đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này vào mục đích đánh bạc, bị cáo Hoàng Văn C mang theo số tiền 1.740.000đồng và sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc; bị cáo Hoàng Vĩ Đ mang theo số tiền là 1.700.000đồng và sử dụng toàn bộ số tiền mục đích đánh bạc, đồng thời bị cáo là người lấy bộ bài tú lơ khơ để bị cáo và các bị cáo khác đánh bạc, bị cáo Kiều Duy L mang theo số tiền 1.300.000đồng và sử dụng vào mục đích đánh bạc, bị cáo Lý Văn B mang theo 1.260.000đồng và lấy ra 650.000đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc còn lại số tiền 700.000đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc, bị cáo Phan Văn T2 mang theo 3.550.000đồng và lấy ra 500.000đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc còn lại số tiền 3.050.000đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với các bị cáo:
Bị cáo Kiều Duy L có nhân thân không tốt vào năm 2023 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt về tội phạm tội: “Đánh bạc”, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội có cùng tính chất nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bàn Văn K, Hoàng Văn C, Hoàng Vĩ Đ, Lý Văn B, Phan Văn T2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
9
[6] Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Kiều Duy L sử dụng số tiền 1.300.000đồng tham gia đánh bạc, tuy nhiên bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội và thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án; bị cáo Bàn Văn K sử dụng số tiền nhiều nhất để tham gia đánh bạc là 2.200.000đồng, tiếp theo là bị cáo Hoàng Văn C sử dụng số tiền 1.740.000đồng để tham gia đánh bạc và bị cáo Hoàng Vĩ Đ sử dụng số tiền 1.700.000đồng để tham gia đánh bạc nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự bằng nhau và thấp hơn bị cáo Kiều Duy L; bị cáo Hoàng Văn B2 sử dụng số tiền 560.000đồng để tham gia đánh bạc và bị cáo Phan Văn T2 sử dụng 500.000đồng để tham gia đánh bạc nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự bằng nhau và thấp hơn các bị cáo khác trong vụ án.
Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm tại địa phương nói chung và tệ nạn đánh bạc nói riêng trên địa bàn huyện L đang có chiều hướng gia tăng nên chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cần cách ly bị cáo Kiều Duy L ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội và gia đình.
Đối với các bị cáo Bàn Văn K, Hoàng Văn C, Hoàng Vĩ Đ không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 áp dụng hình phạt chính là hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo, giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú và gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
Tuy nhiên, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này hiện nay đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn huyện L, tỉnh Lâm Đồng nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Bàn Văn K, Hoàng Văn C, Hoàng Vĩ Đ theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự nhằm đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
10
Đối với bị cáo Lý Văn B và Phan Văn T2 có nơi cư trú rõ ràng nên xử phạt bị cáo hình phạt chính là hình phạt tiền để các bị cáo thấy được giá trị của đồng tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Xử lý vật chứng: vật chứng của vụ án do Cơ quan điều tra thu giữ bàn giao sang Chi cục thi hành án gồm 01 chiếu nhựa màu đỏ - vàng đã qua sử dụng được dán niêm phong có chữ ký của những người tham gia và đóng dấu đỏ của Công an xã T, 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng được đựng trong 01 phong bì bưu điện màu vàng có chữ ký của những người tham gia và đóng dấu đỏ của Công an xã T. Đây là công cụ các bị cáo đã sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu tiêu hủy; Đối với số tiền 8.000.000đồng các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với tổng số tiền 3.750.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội cụ thể: thu giữ trên người bị cáo Hoàng Văn B2 số tiền 700.000đồng và thu giữ trên người bị cáo Phan Văn T2 số tiền 3.050.000đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả cho các bị cáo số tiền này là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn B2 và bị cáo Phan Văn T2 xác nhận đã nhận đủ số tiền trên và không có khiếu nại hay thắc mắc gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Đối với: 01 điện thoại Samsung A04s, màu đen; 01 điện thoại Samsung A13, màu đen; 01 điện thoại Iphone 11, màu xanh; 01 điện thoại Oppo A95, màu xanh; 01 điện thoại Oppo A55, màu xanh; 01 điện thoại Oppo A9 màu xanh; 01 xe mô tô biển kiểm soát số 49V1 – 3265, nhãn hiệu Dream; 01 xe mô tô biển kiểm soát số 49D1 – 391.32, nhãn hiệu Dream các bị cáo không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sỡ hữu là đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo xác nhận đã nhận đủ tài sản trên và không có khiếu nại hay thắc mắc gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Đối với bà Nguyễn Thị V1 không biết việc các bị cáo sử dụng nhà của mình làm địa điểm để đánh bạc, quá trình các bị cáo đánh bạc bà V1 không có mặt ở nhà, không thu tiền xâu nên Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.
[8] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố các bị cáo Kiều Duy L, Bàn Văn K, Hoàng Văn C, Hoàng Vĩ Đ, Lý Văn B và Phan Văn T2 phạm tội: “Đánh bạc”.
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Kiều Duy L 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Bàn Văn K 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 (một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ (04 x 3 = 12 ngày)) còn lại bị cáo phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn C 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 (một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ (04 x 3 = 12 ngày)) còn lại bị cáo phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Xử phạt: bị cáo Hoàng Vĩ Đ 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 02/01/2025 (một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ (04 x 3 = 12 ngày)) còn lại bị cáo phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
12
Giao các bị cáo Bàn Văn K, Hoàng Văn C, Hoàng Vĩ Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục; Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Các bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tại không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Bàn Văn K, Hoàng Văn C, Hoàng Vĩ Đ.
1.5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Lý Văn B 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Phan Văn T2 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
2. Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên phạt: bị cáo Bàn Văn K, Hoàng Văn C, Hoàng Vĩ Đ mỗi bị cáo 10.000.000đồng (Mười triệu đồng), để sung vào ngân sách Nhà nước.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên:
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 8.000.000đồng (Tám triệu đồng).
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu nhựa màu đỏ - vàng đã qua sử dụng được dán niêm phong có chữ ký của những người tham gia và đóng dấu đỏ của Công an xã T, 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng được đựng trong 01 phong bì bưu điện màu vàng có chữ ký của những người tham gia và đóng dấu đỏ của Công an xã T
Tại tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà tại kho bạc Nhà nước huyện L theo giấy nộp tiền lập ngày 17/02/2025.
(Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 26/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).
13
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/3/2025), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sáo bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sơn Linh |
14
Bản án số 33/2025/HSST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 33/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn K cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc
