Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LỘC

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày: 19 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Mạnh Sằn;

Bà Hoàng Thị Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Phương Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mã Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Hoàng Văn N, sinh ngày 01 tháng 9 năm 1983, tại xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình T (đã chết) và bà Lý Thị N1, có vợ là Chu Thị N2 và 01 con sinh năm 2008; tiền sự, tiền án: không có; nhân thân: chưa bị xử lý hành sự, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 24/9/2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Chỗ ở: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Bà Lương Thị T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

-Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Lương Thị T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt;

2. Chị Chu Thị N2, sinh năm: 1986; địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt;

3. Anh Chu Viết H, sinh năm: 1990, địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 02/2024, Hoàng Văn N đến gặp Nguyễn Ngọc S đặt vấn đề thuê Sáng lái máy xúc để xới đất ruộng của gia đình tại khu ruộng Nà Pàn thuộc thôn Bản Xâm, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để trồng cây nông nghiệp (ngô, sắn,...). Hai bên đã thỏa thuận thống nhất với nhau giá 500.000 đồng/giờ (năm trăm nghìn đồng/giờ), nhưng không có hợp đồng. Ngày 01/03/2024, S lái máy xúc đến khu ruộng nhà Hoàng Văn N để làm thì Hoàng Văn N cho biết, do mấy hôm trời mưa, Hoàng Văn N chưa phát, đốt cỏ dại trên ruộng được nên bảo Nguyễn Ngọc S cứ để máy xúc trên khu ruộng nhà mình, mấy hôm nữa phát cỏ xong sẽ gọi Nguyễn Ngọc Sáng Q. Khoảng 07 giờ ngày 05/03/2024, Hoàng Văn N cùng vợ là Chu Thị N2 đi bộ từ nhà ra khu ruộng trên để phát, đốt cỏ khô. Trên đường đi, hai vợ chồng Hoàng Văn N và Chu Thị Ngọc Q1 nhà em vợ là Chu Viết H nhờ Chu Viết H cùng đi hộ làm. Khi đến nơi, Hoàng Văn N và Chu Thị N2 dùng dao phát cỏ, vun lại thành đống và phát đường băng cản lửa giữa khu ruộng gia đình với các hộ xung quanh, Chu Viết H dùng máy phát cỏ phát đường băng giáp ranh với máy xúc (cách máy xúc khoảng 02 mét) để cản lửa. Sau đó, Hoàng Văn N trực tiếp dùng bật lửa để đốt cỏ khô từ đường băng tiếp giáp với các hộ xung quanh trước rồi đốt ngược lại từ đường băng cản lửa gần máy xúc trở lên. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi thấy lửa đã tắt, cả ba đi về nhà của Chu Viết H để ăn cơm và nghỉ ngơi. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Chu Viết H được người dân báo tin chiếc máy xúc của Nguyễn Ngọc S để ở trong khu ruộng nhà Hoàng Văn N đã bị cháy. Chu Viết H chạy đến khu ruộng thì thấy khói trong buồng lái máy xúc, Chu Viết H thông báo cho Hoàng Văn N biết rồi hô hoán mọi người giúp dập lửa nhưng lửa cháy rất to, không thể dập được. Sau đó, Chu Viết H và Hoàng Văn N đã lên Công an xã C để trình báo sự việc.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Máy đào bánh xích nhãn hiệu KOBELCO; Kiểu loại: SK60-1; Tên thương mại: Acera SK60; Số động cơ: 759690; Số khung: LE-11930; Năm, nước sản xuất: 1990, Nhật Bản; Động cơ: Diesel, Tình trạng tài sản: Đã qua sử dụng, hoạt động bình thường có giá trị thiệt hại 269.000.000 đồng”.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS-CL ngày 24/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” theo khoản 1 Điều 180 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như bản Cáo trạng đã truy tố. Đại diện theo uỷ quyền của bị hại thừa nhận lời khai của bị cáo là đúng sự thật, ngoài ra, đại diện theo ủy quyền của bị hại trình bày bị hại đề nghị xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; phần bồi thường bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, nay không yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, anh Chu Viết H, chị Chu Thị N2 thừa nhận lời khai của bị cáo là đúng, thừa nhận có tham gia phát dọn bãi cho bị cáo nhưng không là người đốt lửa.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” theo khoản 1 Điều 180 của Bộ luật Hình sự, áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự và vật chứng, bị hại đã nhận lại tài sản và nhận đầy đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Phần tranh luận, bị cáo, đại diện theo uỷ quyền của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện theo uỷ quyền của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập một cách hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận, Hoàng Văn N trực tiếp dùng bật lửa đốt cỏ, khi quan sát thấy lửa đã tắt Hoàng Văn N đi về mà không kiểm tra kĩ các tàn tro, đóm lửa bên dưới đống cỏ đã đốt dẫn đến khi có gió lửa tiếp tục bén lửa vào lớp cỏ khô và thực bì bên dưới lan sang cháy chiếc máy xúc nhãn hiệu KOBELCO của anh Nguyễn Ngọc S đặt cách đó 02 mét, giá trị thiệt hại tài sản là 269.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 180 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật và không có căn cứ ngoại phạm đối với bị cáo.

[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, vô ý đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được luật hình sự bảo vệ. Khi thực hiện hành vi, bị cáo không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước, nhưng hậu quả thiệt hại tài sản vẫn xảy ra với lỗi vì quá tự tin; về chủ thể, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh trước pháp luật thì mới có tính chất răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[4] Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; bản thân bị cáo là Chi Hội trưởng Chi hội cựu chiến binh thôn P, xã C, huyện C; về tình tiết tăng nặng, ngoài tình tiết định khung bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại và bị hại cũng đã có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Ngọc S đã nhận đủ tiền bồi thường và không có ý kiến yêu cầu bồi thường khác về trách nhiệm dân sự nên không xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng của vụ án đã được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định xử lý trước khi mở phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Việc khấu trừ thu nhập, Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo làm nghề nông, thu nhập chủ yếu không ổn định, đồng thời, vừa khắc phục hậu quả không mong muốn với số tiền lớn đối với gia đình bị cáo. Do đó, miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo.

[8] Đối với Chu Thị N2 và Chu Viết H, quá trình điều tra xác định Chu Thị N2 và Chu Viết H đều không trực tiếp thực hiện việc đốt cỏ, khi xảy ra cháy đã cùng với Hoàng Văn N và người dân xung quanh dập tắt lửa. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là có cơ sở.

[9] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 180, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội: Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án và bản án. Giao bị cáo Hoàng Văn N cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Hoàng Văn N.

Trường hợp người cải tạo không giam giữ, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thì thực hiện theo điều 100 Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Cao Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Cao Lộc;
  • - UBND xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Bẩy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN về vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn N - Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger