|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST; Ngày: 17-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Phạm Thị Ngọc Vân.
- 2/ Ông Trần Tấn Thanh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Như Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/20/2025/HSST-QĐ ngày 03/3/2025 đối với bị cáo:
Tôn Trí Hiếu sinh ngày 19 tháng 5 năm 1990; Nơi sinh tại tỉnh Vĩnh Long; Số CCCD [...]; Nơi cư trú và chỗ ở hiện tại: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Bán kẹo kéo; Trình độ văn hóa: 6/12; con ông Tôn Văn D sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Thu H (không rõ năm sinh và nơi cư trú); Bị cáo chưa có vợ, chưa có con.
Tiền sự: Không có.
Tiền án: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 16/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 19/7/2024. Bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.
- 2 -
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Tấn Phát sinh năm 1999 (vắng mặt)
Nơi cư trú: số C ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. - Trần Thị Kim H1 sinh năm 1967 (vắng mặt);
Nơi cư trú: số C ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 16/7/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an thành phố M phối hợp với Công an P1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang bắt quả tang bị cáo Tôn Trí H2 tàng trữ trái phép chất ma túy tại cột đèn số A T1-4 cầu R thuộc khu phố A, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang nên lập biên bản phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon màu trắng có viền đỏ một đầu có một mặt bị rách bên trong chứa bột màu trắng và 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ. Tất cả cho vào bìa thư màu trắng niêm phong lại có chữ ký ghi họ tên Tôn Trí H2, Nguyễn Duy M, Nguyễn Trọng N, Lê Ngọc Q và dấu tròn màu đỏ ghi Công an P1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (Ký hiệu 01); 01 gói nylon màu trắng có viền đỏ một đầu bên trong có 05 gói nylon màu trắng có viền đỏ một đầu được hàn kín đều chứa tinh thể màu trắng. Tất cả cho vào bìa thư màu trắng niêm phong lại có chữ ký ghi họ tên Tôn Trí H2, Nguyễn Duy M, Nguyễn Trọng N, Lê Ngọc Q và dấu tròn màu đỏ ghi Công an P1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (Ký hiệu 02); 01 điện thoại di động màu xanh – đen không nhãn hiệu mặt kính bị bể số, số IMEI: 865593046075030, 865593016138655; 01 sim Vinaphone ghi dãy số [...]-11422531671; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario màu đen, gắn biển số 63B2-556.22.
Kết luận giám định số 117 ngày 19/7/2024 của Phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Gói 1 (Ký hiệu 01): Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0463gam loại Ketamine; Gói 2 (Ký hiệu 02): Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 34,5838gam loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo Tôn Trí H2 bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 11/2023. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, bị cáo H2 từ nhà ở xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long điều khiển xe mô tô, gắn biển số 63B2-556.22 một mình đi đến quán C thuộc xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre gặp thanh niên tên L (không rõ họ, tên, địa chỉ) để lấy ma túy, do bị cáo H2 liên hệ với L đặt mua 13.500.000 đồng ma túy trước đó. Đến nơi, bị cáo H2 trả 13.500.000 đồng được L đưa 01 gói nylon bên trong có 05 gói ma túy đá và 01 gói ma túy khay bên trong có đoạn ống hút nhựa màu đỏ. Sau đó, bị cáo H2 cất giấu toàn bộ số
- 3 -
ma túy vào quần lót ngay phía trên người rồi điều khiển về hướng thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Khi đến đoạn trụ đèn số A T1-4 cầu R, thuộc khu phố A, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Bị cáo Tôn Trí H2 khai nhận mục đích mua ma túy, cất giữ để sử dụng, tiền mua ma túy là của cá nhân bị cáo H2.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSMT ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Tôn Trí H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tôn Trí H2 từ 10 đến 11 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được để trong 02 (hai) bìa thư được niêm phong, ký hiệu số 117/1, 117/2 ghi ngày 18/7/2024 có các chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều L1 (Giám định viên), Trần Thanh D1 (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên Đoàn Minh K (bên nhận) và hình dấu tròn đỏ có nội dung: PHÒNG K2 - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG và biển số xe 63B2-556.22.
Đề nghị trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario màu đen, số khung MH1KF1119GK605101, số máy KF11E160217 cho anh Nguyễn Tấn P.
Đề nghị trả lại cho bị cáo Tôn Trí H2 01 điện thoại di động màu xanh – đen không nhãn hiệu mặt kính bị bể, có 01 (một) sim Vinaphone ghi dãy số [...]-11422531671.
Phát biểu tự bào chữa của bị cáo Tôn Trí H2: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trình tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Những người
- 4 -
này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và trong quá trình điều tra, những đương sự nêu trên đã có lời khai cụ thể, đầy đủ, rõ ràng. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây khó khăn cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những đương sự theo thủ tục chung.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Tôn Trí H2 đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 16/7/2024, tại cột đèn số A T1-4 cầu R thuộc khu phố A, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Bị cáo Tôn Trí H2 bị bắt quả tang đang tàng trữ 0,0463gam, loại Ketamine và 34,5838gam loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng. Theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 5 Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì tổng khối lượng chất ma túy mà bị cáo Tôn Trí H2 tàng trữ như sau: Tỷ lệ % khối lượng Ketamine (Gói 01) so với mức tối thiểu đối với ma túy thể rắn được quy định tại điểm e khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự: 0,0463gam/300 gam*100 = 0,015433%. Tỷ lệ % khối lượng Methamphetamine (Gói 02) so với mức tối thiểu đối với ma tuý loại Methamphetamine được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự: 34,5838 gam/100 gam *100 = 34,5838%. Tổng tỷ lệ % khối lượng của các chất ma túy mà bị cáo tàng trữ là: 0,015433% + 34,5838% = 34,59923%, dưới 100% so với theo quy định tại khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Tôn Trí H2 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”.
Bản thân bị cáo Tôn Trí H2 có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để phục vụ và đáp ứng nhu cầu của cá nhân nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Tôn Trí H2 ra trước Tòa án để xem xét về tội danh và điều luật như đã nêu trên là có căn cứ theo quy định của pháp luật. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho
- 5 -
xã hội, vi phạm pháp luật, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục cho bị cáo biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.
[4] Đối với người người tên L đã bán ma túy, do bị cáo H2 không biết họ, tên, địa chỉ, số điện thoại nên Cơ quan điều tra không tiến hành xác minh để làm việc được, sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lí sau.
[5] Về nhân thân của bị cáo Tôn Trí H2: Bị cáo không có tiền sự, không có tiền án.
[6] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H2 đều đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng nào.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy còn lại sau giám định được để trong 02 (hai) bìa thư được niêm phong, ký hiệu số 117/1, 117/2 ghi ngày 18/7/2024 có các chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều L1 (Giám định viên), Trần Thanh D1 (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên Đoàn Minh K (bên nhận) và hình dấu tròn đỏ có nội dung: PHÒNG K2 - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động màu xanh – đen không nhãn hiệu. Tình trạng khi tiếp nhận, điện thoại không lên nguồn, mặt kính bị bể, không kiểm tra bên trong, có 01 (một) sim Vinaphone ghi dãy số [...]-11422531671 là tài sản của bị cáo H2 nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario màu đen, số khung MH1KF1119GK605101, số máy KF11E160217, qua xác minh xe có biển số 67L1-703.19 do bà Trần Thị Kim H1 sinh năm 1974, cư trú ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang đứng tên chủ sở hữu vào năm 2016. Năm 2018 bà H1 đã cho anh Nguyễn Tấn P (con ruột) để đi học. Đến ngày 20/05/2019, anh P bị mất trộm trên địa bàn quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện anh P có yêu cầu nhận lại xe. Về phía bị cáo Tôn Trí H2 khai nhận mua xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario có gắn biển số 63B2-556.22 của người tên K1 (không rõ họ tên địa chỉ) trước đó khoảng 03 tháng. Lúc mua, K1 có đưa giấy đăng ký xe nhưng bị cáo H2 đã làm mất. Do bị cáo H2 không có chứng cứ chứng minh được quyền sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô trên nên cần trả lại xe mô tô trên cho cho anh Nguyễn Tấn P.
Đối với biển số 63B2-556.22, qua tra cứu là loại xe YAMAHA có số khung RLCN5P1109Y082146, số máy 5P11082145 do ông Phạm Công H3, sinh
- 6 -
năm 1962, cư trú ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sở hữu vào năm 2016. Hiện anh H3 vẫn đang sử dụng chiếc xe này, anh không có yêu cầu gì đối với biển số xe 63B2-556.22. Do đó, Hội đồng xét xử cần tịch thu tiêu hủy biển số xe 63B2-556.22.
[8] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
[9] Về án phí: Bị cáo Tôn Trí H2 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Tôn Trí H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Tôn Trí H2 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 16 tháng 7 năm 2024.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật HSình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario màu đen. Tình trạng khi tiếp nhận: Xe không nổ máy, không kinh chiếu hậu bên phải, không kiểm tra tình trạng bên trong, số khung MH1KF1119GK605101, số máy KF11E1604217,
Trả lại cho bị cáo Tôn Trí H2 01 (một) điện thoại di động màu xanh – đen không nhãn hiệu mặt kính bị bể số, số IMEI: 865593046075030, 865593016138655; 01 sim Vinaphone ghi dãy số [...]-11422531671.
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bìa thư được niêm phong, ký hiệu số 117/1, 117/2 ghi ngày 18/7/2024 có các chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều L1 (Giám định viên), Trần Thanh D1 (Trợ lý Giám định viên), chữ ký ghi họ tên Đoàn Minh K (bên nhận) và hình dấu tròn đỏ có nội dung: PHÒNG K2 - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG và biển số xe 63B2-556.22.
Hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đang giữ toàn bộ các vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/02/2025.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Tôn Trí H2 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
- 7 -
xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN Mai Thị Mỹ Trang |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt tù
