Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 33/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 11/3/2025.

“V/v tranh chấp ly hôn”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Kim Phương

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đặng Văn Chiểu

Bà Võ Tuyết Kha

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Trí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Phước Long mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 59/2025/TLST – HNGĐ, ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 18 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh ngày 01/01/1973. Địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh ngày 01/01/1970. Địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Văn N có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1994, chị D và anh N có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện không ai ép buộc nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chị D, anh N chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra mâu thuẩn do vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại chị D, anh N đã ly thân với nhau khoảng từ tháng 7/2024 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị D yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn N.

Về con chung: Chị D xác định giữa chị và anh N có 02 người con chung tên Phạm Văn C, sinh ngày 01/01/1996 và Phạm Thị Hồng N1, sinh ngày 23/02/1999. Hiện tại các con của anh chị đã trưởng thành nên chị D không yêu cầu gì.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị D xác định anh chị đã tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị D không yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Phạm Văn N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1994, anh N và chị D có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện không ai ép buộc nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra mâu thuẩn do thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại anh N và chị D đã ly thân với nhau khoảng từ tháng 7/2024 cho đến nay. Nay chị D yêu cầu ly hôn thì anh N đồng ý.

Về con chung: Anh N xác định anh và chị D có 02 người con chung tên Phạm Văn C, sinh ngày 01/01/1996 và Phạm Thị Hồng N1, sinh ngày 23/02/1999. Hiện tại các con của anh chị đã trưởng thành nên anh N không yêu cầu gì.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh N xác định đã tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh N không yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Văn N là vợ chồng.
  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Văn N xác định các con của anh chị đã trưởng thành nên không yêu cầu, do đó không đặt ra xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Văn N đã tự thoả thuận, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Ngoài ra, đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn N nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn” là đúng quy định.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phạm Văn N có nơi đăng ký thường trú tại ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Nguyên đơn, bị đơn tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Văn N.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn N, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị D thừa nhận vào năm 1994 có tổ chức đám cưới với anh Phạm Văn N trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay anh, chị chưa có đăng ký kết hôn. Nay chị D yêu cầu ly hôn với anh N thì anh N cũng đồng ý. Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này mà chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Văn N là vợ chồng.

[5] Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Văn N xác định các con của anh chị đã trưởng thành nên không yêu cầu, do đó không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Văn N đã tự thoả thuận, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị D phải chịu số tiền 300.000đ.

[8] Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Văn N là vợ chồng.
  2. Về con chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị D phải nộp 300.000 đồng. Do chị D đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003204, ngày 14/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Kim Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HNGĐ - ST ngày 11/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 33/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger