|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 06 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lý và ông Hoàng Đức Cảnh
Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Thuỷ- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thuý- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Lò Văn H, sinh năm: 2001, tại: Điện Biên; giới tính: Nam; ĐKHKTT: Bản Lĩnh Luông, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường D, thành phố T, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Họ và tên bố: Lò Văn T (đã chết). Họ tên mẹ: Lò Thị M, sinh năm 1982; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
- Lò Văn H1, Sinh năm: 1987, tại: Điện Biên; giới tính: Nam; ĐKHKTT: Bản Chăn, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường D, thành phố T, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12. Họ và tên bố: Lò Văn H2, sinh năm 1963. Họ tên mẹ: Bạc Thị T1, sinh năm 1965; Họ tên vợ: Cà Thị B, sinh năm 1989. Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 27/2017/HSST ngày 01/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 18/02/2018 chấp hành xong án phạt tù, đã thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm ngày 09/11/2017 (đã xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 28/10/2024 đến ngày 06/11/2024 chuyển tạm giam. Có mặt
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 28/10/2024 đến ngày 06/11/2024 chuyển tạm giam. Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn H và Lò Văn H1: Ông Bùi Văn B1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H tham gia tố tụng; có mặt.
Người làm chứng: Trần Thị B2, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 28/10/2024, tại khu vực chân cầu B thuộc thôn D, xã T, huyện T (nay là tổ dân phố D, phường D, thành phố T), Hải Phòng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý, Công an huyện T kết hợp với Công an xã T phát hiện bắt quả tang Lò Văn H và Lò Văn H1 có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Lò Văn H đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy). Tạm giữ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 16R3-0042 đã qua sử dụng do Lò Văn H điều khiển (Kiểm tra xe không thu giữ gì).
Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Lò Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại Kết luận giám định số 1252/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,19 gam, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn H và Lò Văn H1 khai nhận: do bản thân nghiện ma tuý nên H thường xuyên đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 11 giờ ngày 28/10/2024, tại cổng công trường dự án khu hành chính Hải Phòng, H gặp H1 là công nhân làm việc cùng H và cũng nghiện ma túy Heroine. H hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát: 16R3-0042 của H1 để đi mua ma túy và hứa sau khi mua được ma túy sẽ cho H1 một ít ma túy để sử dụng. H1 đồng ý và yêu cầu được đi mua ma túy cùng H. Khoảng 12 giờ cùng ngày, H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 16R3-0042 đến đón H đi mua ma túy. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 16R3-0042 chở H1 sang chân cầu B phía nội thành Hải Phòng để mua ma túy. H bảo H1 đứng ngoài đợi rồi một mình điều khiển xe vào khu vực chợ H3 để mua ma túy. Tại đây, H gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H đi ra thông báo cho H1 biết đã mua được ma túy và bảo H1 lên xe đi về, khi về đến khu vực chân cầu B địa phận huyện T thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng: 01 bì giấy niêm phong số 1252MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại sau giám định (0,13 gam Heroine) cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên quản lý.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16R3-0042, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Phạm Tiến D, sinh năm 1988, ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi cư trú: tổ dân phố D, phường D, thành phố T, Hải Phòng (là người thuê Lò Văn H1 lao động). Anh Dũng cho H1 mượn xe đi lại, không biết H1 sử dụng vào mục đích đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh D quản lý, sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT - VKSTN ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên truy tố Lò Văn H, Lò Văn H1 đồng phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên toà:
Bị cáo Lò Văn H, Lò Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo đã tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà trình bày quan điểm: Sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội và cùng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào điểm c khoản 1Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn H, Lò Văn H1 từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong chứa chất ma tuý còn lại sau giám định (0,13 gam Heroin ) cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên) - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn H1 là đối tượng được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/10/2024. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo Lò Văn H, Lò Văn H1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, Bản kết luận giám định số 1252/ KL -KTHS ngày 31/10/2024 của phòng K Công an thành phố H và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ đủ căn cứ xác định: Để có ma tuý sử dụng, khoảng 11 giờ ngày 28/10/2024 H gặp H1 tại cổng công trường dự án khu H hỏi mượn xe đi mua ma tuý về sử dụng và hứa cho H1 ma tuý để sử dụng, H1 đồng ý và cùng đi với H. Sau khi mua được ma tuý trên đường về đến chân cầu B và H1 bị phát hiện bắt quả tang cất giữ 0,19 gam ma tuý loại Heroin. Hành vi của các bị cáo Lò Văn H và Lò Văn H1 đã thoả mãn cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
[3] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma tuý của nhà nước. Hiện nay tệ nạn ma tuý đang là hiểm hoạ lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khoẻ của con người, gây mất trật tự an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của từng bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây thuộc tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân:
[6] Bị cáo Lò Văn H1 đã có 01 tiền án tại Bản án số 27/2017/HSST ngày 01/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 18/02/2018 chấp hành xong án phạt tù, đã thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm ngày 09/11/2017 (đã xóa án tích).
[7] Bị cáo Lò Văn H không có tiền án, tiền sự.
- Về vai trò:
[7] Trong vụ án bị cáo Lò Văn H người đề xuất, nguồn tiền mua ma tuý là của H và H là người trực tiếp vào mua ma tuý, bị cáo Lò Văn H1 là người được H đề xuất và thực hành tích cực. Do đó trong vụ án xác định vai trò của bị cáo H cao hơn bị cáo Lò Văn H1.
- Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:
[8] Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng mức án tù có thời hạn đối với bị cáo Lò Văn H, Lò Văn H1 như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên là đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[9] Do các bị cáo Lò Văn H1, Lò Văn H không có tài sản riêng, thu nhập của các bị cáo không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng:
[10] Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì giấy niêm phong số 1252MT/ PC09 chứa chất ma tuý còn lại sau giám định (0,13 gam Heroin) cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên)
- Về án phí:
[11] Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn H1 là đối tượng được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo:
[12] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H, Lò Văn H1 Phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”
Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H, bị cáo Lò Văn H1 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28 tháng 10 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì giấy niêm phong số 1252MT/ PC09 chứa chất ma tuý còn lại sau giám định (0,13 gam Heroin ) cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò Văn H, Lò Văn H1 không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự,
Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án, tự nguyện thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn H, Lò Văn H1 Tàng trữ trái phép chất ma tuý
