Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:33/2025/DS-PT

Ngày05-3-2025

Về việc: “Giải quyết hậu quả của

hợp đồng vô hiệu”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

  • - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ứng

  • Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Thế Hạnh và ông Dương Hà Ngân

  • - Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Lệ Nam, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024 về việc “Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu”, do Bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 87/2024/QĐ-PTngày02tháng12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 110/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09a/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thu H, địa chỉ: TDP A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt;

  • - Bị đơn:Anh Huỳnh Nhất S;địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị H1; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông;

  • - Bà Cao Thị D; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông;

  • - Ông Trịnh Hải Q; địa chỉ: TDP A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông;

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

2

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đặng Thị Thu H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27-11-2023 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đặng Thị Thu H trình bày:

Ngày 02-3-2022, vợ chồng bà H và ông Trịnh Hải Q có ký kết hợp đồng mua bán đất với ông Huỳnh Nhất S để thực hiện việc chuyển nhượng đối với diện tích 5.885m²đất tại thôn T, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông với giá 4.098.000.000 đồng, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi ký kết hợp đồng mua bán này, ông S và vợ chồng bà H lập hợp đồng đặt cọc số tiền là 1.000.000.000 đồng. Khi bán đất, trên đất còn khoảng 200 cây cà phê lớn nhỏ, nguồn gốc số cây cà phê này do vợ chồng ông bà Phùng T và Nguyễn Thị H1 trồng trước khi bán đất cho vợ chồng bà H, cây cà phê khỏe mạnh và đã cho thu trái. Sau khi đặt cọc tiền, ông S đã tự ý thuê máy múc san ủi mặt bằng, nạo vét hồ, đào hố trồng dừa, chôn cọc bê tông và rào lưới B40 khi chưa có sự đồng ý của vợ chồng bà H, việc bàn giao đất chưa thực hiện dẫn đến việc bà H bị thiệt hại 200 cây cà phê.

Sau này, việc chuyển nhượng không thành do đất không được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Ông S khởi kiện ông Trịnh Hải Q (chồng của bà Đặng Thị Thu H). Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 31-7-2023, TAND thành phố Gia Nghĩa đã tuyên hợp đồng mua bán đất ngày 02-3-2022 vô hiệu. Tuy nhiên, TAND thành phố Gia Nghĩa không đề cập tới việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu đối với 200 cây cà phê mà bà H cho rằng ông S đã phá bỏ. Vợ chồng bà H đã làm đơn kháng cáo, vụ án đã được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên tại bản án dân sự phúc thẩm số 82/2023/DS-PT ngày 17-11-2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông cũng không đề cập giải quyết đối với việc bồi thường 200 cây cà phê nói trên. Vì vậy, nay bà H khởi kiện một vụ án khác đề nghị TAND thành phố Gia Nghĩa giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, yêu cầu ông Huỳnh Nhất S bồi thường giá trị của 200 cây cà phê trên đất mà anh S đã phá bỏ, giá trị bồi thường là 100.000.000 đồng.

Bị đơn ông Huỳnh Nhất S trình bày: Ông Huỳnh Nhất S thừa nhận ngày 02-3-2022, vợ chồng bà H và ông Trịnh Hải Q có ký kết hợp đồng mua bán với ông Huỳnh Nhất S để thực hiện việc chuyển nhượng đối với diện tích 5.885m² đất tại thôn T, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông với giá 4.098.000.000 đồng, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi ký kết hợp đồng mua bán này, ông S và vợ chồng bà H thoả thuận đặt cọc số tiền là 1.000.000.000 đồng. Sau khi đặt cọc tiền và ký kết hợp đồng mua bán đất, tháng 3-2022 ông S tiến hành san ủi đất, lúc này hợp đồng mua bán đất vẫn chưa được thực hiện xong. Khi tiến hành san ủi vợ chồng bà H có biết nhưng không có hành vi ngăn cản, ông Q có quay và

3

chụp hình khi ông S san ủi đất. Trước khi mua đất từ vợ chồng bà H, ông S trình bày ông Q đã cho đổ hơn 200 xe đất để san phẳng mặt bằng cho rộng. Ông Trần Văn Đ là người đếm số lượng xe và chỉ điểm nơi đổ đất. Ông Nguyễn Văn T1 là người đổ đất. Sau này mua đất ông S chỉ tiến hành cải tạo thêm, vì vậy, ông S khẳng định trên đất chỉ còn khoảng 15-20 cây cà phê bị bao quanh bởi cỏ, không có ai chăm sóc và không có giá trị thu hoạch.

Ông S không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì trên đất chỉ có khoảng 15-20 cây cà phê không có giá trị thu hoạch. Do đó không có đủ cơ sở để xác định giá trị thiệt hại như yêu cầu khởi kiện của bà H và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Thu H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị D trình bày: Bà là vợ của ông S, tuy nhiên thời điểm ông S mua đất của vợ chồng bà H, bà D chưa kết hôn với ông S nên bà D không biết các vấn đề liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Hải Q trình bày: Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai ngày 01-3-2024 được Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa thu thập trong vụ án dân sự thụ lý số 06/2023/TLST-DS ngày 11-01-2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu”, ông Q trình bày ông có giao đất cho ông S để ông S canh tác và thu hoạch khoảng 200 cây cà phê (chỉ thỏa thuận miệng). Sau này khi ông S có ý muốn không tiếp tục giao kết hợp đồng nữa, ông Q mới biết ông S đã tiến hành san ủi mặt bằng, trồng dừa, đào ao. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Thu H và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Người làm chứng ông Lý Văn H2 trình bày: Vào năm 2016 vợ chồng H3 - P (tên gọi khác của ông T và bà H1) có thuê ông Lý Văn H2 đào lỗ trồng cây cà phê, khoảng 400 đến 500 lỗ. Đến khoảng năm 2017 ông H2 được thuê (không nhớ ai thuê) vào để xẻ rãnh thoát nước cho cây cà phê, lúc này có khoảng 400 cây cà phê trên đất hiện trạng cây cà phê rất tốt và đẹp. Một thời gian sau (Không nhớ rõ thời gian) ông H2 có thấy ông S thuê xe san đất để trồng cây dừa và cải tạo đất. Trước khi ông S thuê xe san ủi đất để trồng dừa và cải tạo đất thì cây cà phê vẫn còn trên đất nhưng ông H2 không rõ số lượng là bao nhiêu. Ngoài ra ông H2 không biết các thông tin khác.

Người làm chứng ông Phùng Văn L trình bày: Ông S thuê ông L phát dọn cỏ trên đất, địa chỉ tại Thôn T, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (không nhớ rõ thời gian được thuê). Lúc này trên đất có cỏ dại ngập đầu người, khi phát dọn cỏ thì có khoảng 50 cây cà phê. Tuy nhiên cây cà phê đã rất lâu không có người chăm sóc không có giá trị sử dụng. Ngoài ra không có các loại cây cối nào khác. Vào

4

thời điểm đến dọn phát cỏ đất chỉ có cỏ, ông S chưa tiến hành san ủi hay cải tạo gì. Ngoài ra ông L không biết các thông tin khác.

Người làm chứng ông Trần Văn Đ trình bày: Vào thời điểm ông T, bà H1 còn là chủ của mảnh đất nêu trên thì trên đất có khoảng 400 cây cà phê. Tuy nhiên vào thời điểm vợ chồng bà H bán đất cho ông Huỳnh Nhất S, ông Đ không biết số lượng cây phê là bao nhiêu, chỉ biết có cây cà phê trên đất. Cây cà phê có cây còn giá trị, có cây không còn giá trị. Ngoài ra ông Đ không biết các thông tin khác.

Tại Bản án số 29/2024/DS-ST ngày 21-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã quyết định: Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào Điều 91, điều 93, Điều 131, Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đặng Thị Thu H về việc yêu cầu ông Huỳnh Nhất S bồi thường giá trị của 200 cây cà phê (tương đương 100.000.000 đồng theo như đơn khởi kiện của bà H).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ án phívà thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22-8-2024,nguyên đơn bà Đặng Thị Thu H kháng cáo và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết hủy bỏ toàn bộ bản án sơ thẩm đã tuyên ngày 21-8-2024.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các bên không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.

  • - Về nội dung: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308của Bộ luật Tố tụng dân sự,không chấp nhận kháng cáo của chị Đặng Thị Thu H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  • [1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơnnộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

  • [2].Xét nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu kháng cáo:

5

  • [2.1]. Theo nội dung đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Ngày 02-3-2022, ông Trịnh Hải Q (chồng bà Đặng Thị Thu H – là nguyên đơn) xác lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Huỳnh Nhất S diện tích 5.885m²đất tại thôn T, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông với giá 4.098.000.000 đồng, anh S đã giao số tiền 1.000.000.000 đồng và anh S đã sử dụng toàn bộ diện tích đất đã nhận chuyển nhượng. Qúa trình thực hiện hợp đồng do diện tích đất chuyển nhượng vợ chồng anh Q, chị H khônglàm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên đã phát sinh tranh chấp. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 31-7-2023 của TAND thành phố Gia Nghĩa và Bản án dân sự phúc thẩm số 82/2023/DS-PT ngày 17-11-2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nôngđã tuyên hợp đồng CNQSDĐ giữa các bên bị vô hiệu và đã giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Qúa trình giải quyết vụ án này, vợ chồng anh Q, chị H đều có ý kiến cho rằng hiện trạng đất tại thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đất có trồng 200 cây cà phê và yêu cầu bên nhận chuyển nhượng phải bồi thường thiệt hại và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay nguyên đơn vẫn khẳng định đã trình bày và yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều không xem xét giải quyết.

  • [2.2]. Như vậy, rõ ràng việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại 200 cây cà phê do bị đơn đã phá bỏ là xuất phát từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên ngày 02-3-2022. Tuy nhiênTại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 31-7-2023 của TAND thành phố Gia Nghĩa và Bản án dân sự phúc thẩm số 82/2023/DS-PT ngày 17-11-2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nôngđều đã tuyên hợp đồng CNQSDĐ giữa các bên bị vô hiệu và đã giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Do vậy, có căn cứ xác định việc khởi kiệncủa nguyên đơn đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Lẽ ra, cấp sơ thẩm phải căn cứ điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án mới đúng. Tuy nhiên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu” và xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có sự nhầm lẫn trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật.

  • Trường hợp, cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét ý kiến và thiệt hại tài sản của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quankhi giải quyết hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu trong vụ án trước đã giải quyết là do việc đánh giá chứng cứ chưa toàn diện, đầy đủ.

  • [2.3]. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét thấy kháng cáo của chị H4 một phần căn cứ để chấp nhận, hủy bản án dân sự sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật là phù hợp.

6

  • [2.4]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nêu trên là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.

  • [3]. Về án phí:

  • [3.1]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Trả lại cho chị Đặng Thị Thu H số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000793 ngày 05-01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

  • [3.2]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy và đình chỉ giải quyết vụ án nên chị Đặng Thị Thu H5 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 308, điểm g khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều 218 và Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông và đình chỉ giải quyết vụ án.
  2. Án phí dân sự:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Trả lại cho chị Đặng Thị Thu H số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000793 ngày 05-01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa.
    • -Án phí dân sự phúc thẩm:Chị Đặng Thị Thu H5 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm chị Đặng Thị Thu H6 nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0007269ngày 11-9-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông,
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - TAND thành phố Gia Nghĩa;
  • - Chi cục THADS thành phố Gia Nghĩa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Tòa dân sự;
  • - Lưu Tổ hành chính tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Ứng

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/DS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu

  • Số bản án: 33/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận môt phần kháng cáo của nguyên đơn. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger