Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN

10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày: 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhất Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thành
  2. Bà Đỗ Thị A

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 03/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 14/02/2025 đối với các bị cáo:

1/ Ngô Tấn N; sinh năm 1985 tại Quảng Ngãi; Thường trú: E T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: N (chết) và bà Trần Thị D; Có vợ đã ly hôn; Có 02 con, con lớn sinh năm 2012 (chết), con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 27/12/2019 bị Công an Q bắt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 25/3/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 11 ra Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 56/2020/QĐ-TA với thời gian 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện số 3, ngày 23/4/2021 đã chấp hành xong.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024 (Có mặt)

2/ Lê Thiện T; sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 112/1/3 N, Phường 1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thiện K (chết) và bà Nguyễn Thị L; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024 (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ 15 ngày 16/9/2024, Đội Cảnh sát điều tra Tội phạm về ma túy Công an Q1 phối hợp với Công an Q1, Quận A tiến hành kiểm tra hành chính Phòng 206, Khách sạn N1 - số H H, Phường A, Quận A phát hiện Ngô Tấn N và Lê Thiện T đang sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ: trên nền nhà trong phòng có 01 (một) bộ dụng cụ để sử dụng ma túy gồm: 01 (một) bình thủy tinh, 01 (một) ống hút nhựa, 01 (một) ống thủy tinh, 01 (một) quẹt gas. Ngô Tấn N và Lê Thiện T khai nhận các dụng cụ nêu trên N và T đã dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; N và T góp tiền mua ma túy để cùng sử dụng. Công an Q1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô Tấn N và Lê Thiện T chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 giải quyết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 trưng cầu giám định số tinh thể dính bên trong ống thủy tinh thu giữ của Ngô Tấn N và Lê Thiện T. Tại Bản kết luận giám định số 10877/KL-KTHS ngày 24/9/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể ký hiệu mẫu m cần giám định không xác định được khối lượng do mẫu vật quá ít, tìm thấy Methamphetamine ở dạng vết”.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 Ngô Tấn N và Lê Thiện T khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 ngày 15/9/2024, sau khi nhậu xong N rủ T mua ma túy đá sử dụng, T đồng ý. Cả hai thống nhất mỗi người góp 100.000 đồng (tổng số 200.000 đồng) để mua ma túy, tiền mua bộ dụng cụ sử dụng ma túy và thuê khách sạn để làm nơi sử dụng, hai người chia đôi sau. Sau đó, T sử dụng xe máy chở N đến khu vực trước bến xe A, N xuống xe đi bộ đến trước một quán cà phê vỉa hè gần đó gặp 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) mua ma túy đá với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T chở N đến Khách sạn N1, thuê Phòng 206. Bị can T lên nhận phòng trước, N lấy xe của T chạy đến ngã ba đường T - C, Phường A, Quận A gặp một người phụ nữ bán hàng rong (không rõ ai lịch), N mua 01 ống thủy tinh (nỏ) và 01 ống hút nhựa với giá 50.000 đồng. Sau đó về Khách sạn, N dùng 01 hũ thủy tinh Nhanh mang theo từ trước kết hợp với ống thủy tinh (nỏ) và ống hút mới mua tạo ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy. N lấy ma túy ra bỏ vào ống thủy tinh (nỏ) rồi cùng T thay nhau sử dụng ma túy.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu của bị can Ngô Tấn N và Lê Thiện T “Dương tính” với chất ma túy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cho N và T chỉ điểm nơi mua ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, rà soát camera nhưng không xác định được thông tin người bán.

- Tài sản, vật chứng thu giữ:

  • + 01 (một) ống thủy tinh (nỏ); 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) hũ thủy tinh và 01 (một) quẹt gas là các dụng cụ để N và T sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imeil 354556100321838, số thuê bao 0796550603 – thu giữ của bị can Ngô Tấn N, không liên quan đến việc phạm tội.
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số imeil 866996066728876, số thuê bao 0792980965 – thu giữ của Lê Thiện T, không liên quan đến việc phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 chuyển các vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSQ10 ngày 03/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố các bị cáo Ngô Tấn N, Lê Thiện T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt:

Bị cáo Ngô Tấn N mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; bị cáo Lê Thiện T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Miễn áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:

  • - Tiêu hủy: 01 (một) ống thủy tinh (nỏ); 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) hũ thủy tinh và 01 (một) quẹt gas.
  • - Trả lại cho bị cáo Ngô Tấn N: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imeil 354556100321838, số thuê bao 0796550603.
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Thiện T: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số imeil 866996066728876, số thuê bao 0792980965.

Các bị cáo không tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Xét, đã có đủ cơ sở kết luận: Để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy, khoảng 19 giờ 30 ngày 15/9/2024, bị cáo Ngô Tấn N đã rủ Lê Thiện T mua ma túy về cùng nhau sử dụng, cả hai đã bàn bạc, thống nhất góp tiền để mua ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy. Bị cáo T dùng xe máy chở bị cáo N đến bến xe A mua 200.000 đồng ma túy. Sau đó cả hai thuê Phòng 206 Khách sạn N1 - số H H, Phường A, Quận A, để lưu trú và cùng nhau sử dụng ma túy thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo N là người rủ rê, trực tiếp mua ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy. Bị cáo T giúp sức tích cực trong việc mua ma túy và cùng sử dụng. Do đó, vai trò của bị cáo N là tích cực hơn.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng muốn thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập của bản thân nên vẫn cố ý phạm tội.

[4] Các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Sau khi xem xét khách quan, toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo thành người có ích. Hình phạt đối với các bị cáo cũng để giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Ngô Tấn N tại khu vực trước bến xe A và người phụ nữ bán ống hút nhựa, ống thủy tinh (nỏ) cho Ngô Tấn N tại ngã ba T và C, do bị cáo Ngô Tấn N không biết rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 không có cơ sở xác minh làm rõ, khi nào làm rõ xử lý sau.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Xét:

  • + 01 (một) ống thủy tinh (nỏ); 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) hũ thủy tinh và 01 (một) quẹt gas là các dụng cụ để các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imeil 354556100321838, số thuê bao 0796550603 – thu giữ của bị cáo Ngô Tấn N, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số imeil 866996066728876, số thuê bao 0792980965 – thu giữ của bị cáo Lê Thiện T, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Ngô Tấn N 02 (Hai) năm 09 (C) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2024.

Xử phạt bị cáo Lê Thiện T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2024.

Miễn áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tiêu hủy:
  • + 01 (một) ống thủy tinh (nỏ); 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) hũ thủy tinh và 01 (một) quẹt gas.
  • - Trả lại cho bị cáo Ngô Tấn N: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imeil 354556100321838, số thuê bao 0796550603.
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Thiện T: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số imeil 866996066728876, số thuê bao 0792980965.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKS ngày 25/12/2024 của Viện kiểm sát Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh)

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 10;
  • - Công an Quận 10, PC53;
  • - Chi cục Thi hành án DS Quận 10;
  • - Bị cáo
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nhất Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TAND Quận 10 xử phạt về tội :"Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger