|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 26/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thủy Trang
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa:
Ông Lê Viết Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Viết T, sinh ngày 20/5/1983 tại Đồng Nai; Căn cước công dân số: [...], ngày cấp: 20/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi đăng ký thường trú: Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T1 và bà Lê Thị N; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh T2, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 07/3/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 17/01/2009, đóng án phí hình sự sơ thẩm ngày 22/7/2008 (bản án số 14/2008/HSST ngày 07/3/2008).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 và chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam công an tỉnh Đ (có mặt).
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1968. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
SĐT: 0974.751.xxx. - Ông Phan Văn Q, sinh năm 1978. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
SĐT: 0768.114.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Viết T là người không có nghề nghiệp. Từ ngày 17/7/2024 đến ngày 19/7/2024 trên địa bàn huyện L, tỉnh Đồng Nai, Phạm Viết T và người đàn ông tên D (không rõ tên tuổi, địa chỉ) đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cụ thể:
Lần 01: Khoảng 05 giờ ngày 17/7/2024, D gọi điện thoại cho T rủ đi trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài, T đồng ý. D điều khiển xe mô tô đến nhà T rồi chở T đi về khu vực huyện L để tìm kiếm xe mô tô để trộm cắp. Khi D và T đi đến khu vực xã L thì phát hiện 01 xe mô tô biển số 60C1-900.07 của anh Phan Văn Q đang dựng tại đường lô cao su không có người trông coi nên D dừng xe đi đến chỗ để xe mô tô trên dùng đoản phá khóa xe, còn T đứng đợi. Sau khi lấy được xe, D điều khiển xe trộm cắp được rồi cùng nhau chạy về khu vực Bệnh viện đa khoa huyện T. Đến nơi, T lấy lấy xe trộm cắp được gửi ở Trung tâm y tế huyện T rồi cả hai đi về nhà. Sau khi về nhà, T gọi điện cho Nguyễn Thị Đ và thỏa thuận với Đ bán xe trên với giá 4.500.000 đồng, Đ biết xe mô tô là do T trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua. Đến 11 giờ cùng ngày, Vũ Đình L gọi điện cho T và hẹn đến khu vực Bưu điện huyện T để nhận xe giúp cho Đ. Sau khi giao xe cho L thì T nhận được 4.500.000 đồng từ số tài khoản có tên TRANTHANHTUYEN do Trần Thanh T3 (con gái bà Đ) là chủ số tài khoản chuyển đến, T rút toàn bộ số tiền trên rồi đưa cho D 4.000.000 đồng và D đưa lại cho T 1.500.000 đồng. Sau khi nhận xe từ T, L điều khiển xe mô tô trộm cắp được về khu vực ngã ba Đ thuộc huyện T, tỉnh Tây Ninh giao cho Nguyễn Công T4 (con trai của bà Đ). Sau khi nhận xe, T4 bán cho một người thanh niên có quốc tịch Campuchia với giá 6.000.000 đồng rồi đưa tiền về cho Đ.
Lần 02: Lúc 05 giờ 19/7/2024 tại ấp A, xã B, huyện L, với thủ đoạn trên T và D tiếp tục phá khóa trộm cắp 01 xe mô tô biển số 60C1-715.32 của ông Nguyễn Văn M. Sau đó, T bán cho Nguyễn Thị Đ, Đ biết tài sản do T trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng, số tiền này T chưa chia cho D. Sau đó, đến ngày 22/7/2024, T bị Công an huyện L bắt khẩn cấp về hành vi nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 69/KL-HĐĐGTS ngày 24 tháng 07 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L, xác định:
- + 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Future, biển kiểm soát: 60C1-715.32 đã qua sử dụng, bị mất ngày 19/7/2024 có giá trị: 18.000.000 đồng.
- + 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave @, biển kiểm soát: 60C1-900.07 đã qua sử dụng, bị mất ngày 17/7/2024 có giá trị: 10.000.000 đồng.
- + Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 28.000.000 đồng.
Trước cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, bị cáo Phạm Viết T đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập đúng trình tự pháp luật có tại hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKSLT ngày 14 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Phạm Viết T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Viết T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Viết T từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô biển số 60C1-715.32, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Văn M.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus. Đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 60C1-900.07 của anh Phan Văn Q, hiện T đã bán nên không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn M đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không yêu cầu gì thêm và bị cáo đã bồi thường cho bị hại Phan Văn Q số tiền 10.000.000 đồng giá trị chiếc xe bị trộm cắp (bút lục số 50-53 tại hồ sơ vụ án) và được anh Q làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, không ai có
ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Viết T khai nhận: Từ ngày 17/7/2024 đến ngày 19/7/2024, tại địa bàn huyện L, tỉnh Đồng Nai, Phạm Viết T cùng người đàn ông tên D (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ) đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: L: Vào lúc 05 giờ ngày 17/7/2024, tại ấp C, xã L, T và đối tượng tên D lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 60C1-900.04 của anh Phan Văn Q có trị giá 10.000.000 đồng. T liên hệ bán cho bà Nguyễn Thị Đ với giá 4.500.000 đồng; Lần 2: Vào lúc 05 giờ ngày 19/7/2024 tại ấp A, xã B, T và D tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 60C1-715.32 của anh Nguyễn Văn M có trị giá 18.000.000 đồng, T tiếp tục liên hệ bán cho bà Đ với giá 3.000.000 đồng. Đến ngày 22/7/2024, T bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L bắt khẩn cấp về hành vi nêu trên. Riêng đối tượng D bỏ trốn chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Tổng trị giá tài sản mà T và D chiếm đoạt cả 02 lần nêu trên là 28.000.000 đồng. Số tiền T thu lợi bất chính là 7.500.000 đồng.
Bị cáo T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do không có nghề nghiệp, lười lao động nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Chỉ trong vòng 03 ngày, bị cáo đã liên tiếp thực hiện 02 vụ trộm cắp trên địa bàn huyện L, gây mất trật tự trị an xã hội và bất an trong nhân dân, mỗi lần trộm cắp đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Do đó, đối với bị cáo, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo còn có nhân thân về tội “Trộm cắp tài sản”, lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cho bản thân, nhưng bị cáo lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không nghiêm.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là những tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn M đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm; Bị cáo đã bồi thường cho bị hại Phan Văn Q số tiền 10.000.000 đồng giá trị chiếc xe bị trộm cắp và được anh Q làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 xe mô tô biển số 60C1-715.32, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Nguyễn Văn M là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tuyên tịch thu sung công quỹ.
- Đối với số tiền 7.500.000 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính, bị cáo đã nộp lại 1.400.000 đồng (bút lục số 287), ngày 25/02/2025 anh Phạm Tuấn K là con trai của bị cáo T đã thay bị cáo nộp thêm 7.500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Số tiền 7.500.000 đồng thu lợi bất chính cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền bị cáo nộp thừa cần trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[8] Đối với hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” của các đối tượng Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Công T4 và Vũ Đình L, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã có Quyết định khởi tố bị can, Quyết định tách vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã có Quyết định chuyển vụ án hình sự đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để điều tra theo thẩm quyền, là đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.Tuyên bố bị cáo Phạm Viết T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Viết T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2024.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại iPhone 7Plus là công cụ thực hiện tội phạm .
Hiện điện thoại trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
- Tuyên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Phạm Viết T thu lợi bất chính 1.400.000 đồng, đã nộp vào tài khoản số 6710969999 mở tại Kho bạc nhà nước huyện L (Ngân hàng T6: B) ngày 14/01/2025 (người nộp Nguyễn Đức Xuân T5).
Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với số tiền thu lợi bất chính 6.100.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0006740 ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Hoàn trả cho bị cáo Phạm Viết T số tiền 1.400.000 đồng còn lại theo biên lai thu trên.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nguyễn Thị Thanh Trúc |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
