Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26-02-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
  2. Bà Ngô Thị Lệ Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 26/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/01/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị K, sinh năm 1988. Có đơn xin vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1974. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị K trình bày:

Chị và anh K1 kết hôn thông qua mai mối, không có sự tìm hiểu trước. Cả hai đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 04/8/2009. Chị và anh K1 có 03 con chung tên Nguyễn Văn H, sinh ngày 15/8/2002, Nguyễn Thị D, sinh ngày 15/01/2003 và Nguyễn Thị C, sinh ngày 24/5/2012. Trong quá trình chung sống, chị và anh K1 không có tình cảm gắn bó, thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Khi chị gặp vấn đề về sức khỏe, anh K1 không quan tâm, chia sẻ hay chăm sóc, khiến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Đặc biệt, mỗi khi sử dụng rượu bia, anh K1 thường xuyên la mắng, chửi bới, gây tổn thương tinh thần nghiêm trọng cho chị. Do mâu thuẫn kéo dài, chị và anh K1 đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn khả năng hàn gắn. Nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh K1. Về con chung: Nguyễn Văn H (sinh ngày 15/8/2002) và Nguyễn Thị D (sinh ngày 15/01/2003) đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thị C (sinh ngày 24/5/2012) và không yêu cầu anh K1 cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Văn K1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh K1 không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Phạm Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Văn K1. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị C, sinh ngày 24/5/2012 cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng, anh K1 không phải cấp dưỡng cho con do chị K tự nguyện không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Chị K trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, còn anh K1 không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn chị Phạm Thị K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn K1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phạm Thị K và anh Nguyễn Văn K1 được pháp luật công nhận, vì có đăng ký kết hôn phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét, yêu cầu ly hôn của chị K đối với anh K1, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời trình bày của chị K thì giữa chị và anh K1 không có tình cảm gắn bó, thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Khi chị gặp vấn đề về sức khỏe, anh K1 không quan tâm, chia sẻ hay chăm sóc, khiến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Đặc biệt, mỗi khi sử dụng rượu bia, anh K1 thường xuyên la mắng, chửi bới, gây tổn thương tinh thần nghiêm trọng cho chị. Do mâu thuẫn kéo dài, chị và anh K1 đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn khả năng hàn gắn. Tòa án đã triệu tập anh K1 để hòa giải và xét xử theo quy định nhưng anh K1 vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị K và anh K1 không thể hàn gắn được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị K được ly hôn với anh K1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

[4] Về con chung: Nguyễn Văn H, sinh ngày 15/8/2002, Nguyễn Thị D, sinh ngày 15/01/2003 đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị K yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thị C, sinh ngày 24/5/2012 và không yêu cầu anh K1 cấp dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu C đang sống chung với chị K đã ổn định và có nguyện vọng muốn tiếp tục được sống với mẹ. Anh K1 chưa có yêu cầu nuôi con nên chấp nhận giao cháu C cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng, chưa có yêu cầu nên chưa xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 53, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Phạm Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Văn K1.
  2. Về việc nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Chị K được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thị C, sinh ngày 24/5/2012. Anh K1 không phải cấp dưỡng cho con do chị K tự nguyện không yêu cầu.
  3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014401 ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Hồng Ngự;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Quốc Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger