|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 25 tháng 02 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư
2. Bà Nguyễn Thị Vượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hoàn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Viết H, sinh năm 1984. Tên gọi khác: Không. Tại: Bắc Giang. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: Số nhà A, ngõ B, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Bùi Văn T (đã chết); Con bà: Hoàng Thị L, sinh năm 1956. Bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Thân Mỹ H1, sinh năm 1991 (đã ly hôn). Con: có 01 con sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 37 ngày 21/4/2020 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960(Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà A, đường T, tổ dân phố D, phường T (nay là phường N), thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- Anh Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 1982(Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà A, đường T, tổ dân phố D, phường T (nay là phường N), thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1956(Có mặt)
Địa chỉ: Số nhà A, ngõ B, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
* Người chứng kiến: Ông Trần Quốc T2, sinh năm 1965 (Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18/10/2024, Bùi Viết H, sinh năm 1984, trú tại số nhà A, ngõ B, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B2 - 763.47 đi từ nhà đến khu vực Cổng 1 nhà máy P, phường T, thành phố B mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Theo H khai gặp một thanh niên không quen biết khoảng hơn 30 tuổi đang đứng ở ven đường. H đi đến gặp và hỏi người thanh niên này về địa điểm bán ma tuý thì người thanh niên này nói có bán ma tuý. H hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá ngựa thì người này đồng ý bán. H đưa cho người thanh niên này 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và được người này đưa cho 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu xanh bên trong có ma túy. H đút túi ma túy vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi về.
Hồi 22 giờ 03 phút cùng ngày khi Bùi Viết H điều khiển xe đi về đến khu vực trước cửa số nhà B, đường T, phường T, thành phố B thì bị lực lượng Công an thành phố B bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền mầu xanh, kiểm tra bên trong đựng 01 viên nén màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng đều nghi là ma tuý. Tang vật do H lấy từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc thả rơi xuống nền đường khi bị bắt sau đó tự giác nhặt lại và giao nộp được cho vào một phong bì dán kín, niêm phong ký hiệu "QT";
- - Xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade biển kiểm sát 98B2- 763.47;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS gắn sim số 0975.469.xxx;
- - Số tiền 1.100.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma túy đã thu giữ của H khi bắt quả tang.
Kết luận giám định số 2248/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu "QT" đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:
Chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 01 túi nilông màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,244 gam, loại Methamphetamine.
Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 18/10/2024 của Công an thành phố B đối với Bùi Viết H dương tính với ma tuý MET.
Cơ quan điều tra đã cho H xem ảnh xác định vật chứng. Kết quả, H xác định túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh, bên trong đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng là ma tuý do Cơ quan điều tra thu giữ của H khi bắt quả tang là túi ma tuý mà H mua mục đích để sử dụng.
Đối với người đàn ông bán ma tuý: Theo bị cáo H khai không biết tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không làm rõ được.
Về xử lý tài sản, vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm sát 98B2- 763.47 là của bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960, trú tại số nhà A, đường T, tổ dân phố D, phường T, thành phố B cho con trai là Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 1982 sử dụng để đi lại. Anh T1 cho H mượn xe này nhưng không biết H sử dụng làm phương tiện để đi mua ma tuý. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà X.
Đối với số ma tuý hoàn lại sau giám định và số vật chứng, tài sản thu giữ còn lại được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Bùi Viết H đã khai nhận hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Bùi Viết H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Bùi Viết H khai nội dung cáo trạng đã truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng. Bị cáo thừa nhận ngày 18/10/2024 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,244 gam chất ma túy Methamphetamine để sử dụng cá nhân. Về nguồn gốc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS gắn sim số 0975.469.xxx bị thu giữ là điện thoại do mẹ bị cáo mua cho bị cáo để sử dụng hàng ngày, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên bị cáo đề nghị xin lại và số tiền 1.100.000 đồng bị thu giữ là tiền bị cáo đi bán trứng gà cho mẹ bị cáo nên bị cáo đề nghị trả lại cho mẹ bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bà Hoàng Thị L bày: Bà xác định điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS gắn sim số 0975.469.xxx bị thu giữ là do bà mua cho bị cáo nên bị cáo có quyền sử dụng và định đoạt, do vậy bà đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật và số tiền 1.100.000 đồng bị thu giữ là tiền do bà nhờ bị cáo đi bán trứng gà mà có nên bà đề nghị xin lại số tiền trên.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo Bùi Viết H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Viết H từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/10/2024.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của phòng K Công an tỉnh B.
Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số IMEI 1: 353134102607926; IMEI 2: 353134102689437, gắm sim số “0975.469.584", đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại bà Hoàng Thị L số tiền 1.100.000 đồng
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
V án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBNTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt người liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 23 giờ 00 phút ngày 18/10/2024, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ được lập vào hồi 22 giờ 30 phút, ngày 18/10/2024, lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Buổi tối ngày 18/10/2024, Bùi Viết H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B2 - 763.47 đi đến khu vực cổng 1 nhà máy phân đạm mua của người không quen biết 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng mục đích để sử dụng. Khi H đi về đến đường T, phường T, thành phố B thì bị Công an thành phố B bắt quả tang. Kết quả giám định số ma túy mà H tàng trữ là Methamphetamine, khối lượng 0,244 gam. Hành vi của bị cáo Bùi Viết H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì lợi ích cá nhân đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất biệt dược gây nghiện của Nhà nước và gây mất trật tự, an ninh xã hội. Từ tệ nạn ma túy làm nảy sinh nhiều loại tội phạm gây nhức nhối cho toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử về hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, có nhân thân xấu nhưng không lấy đó làm bài học mà nay lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục và coi thường pháp luật. Do đó, cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và biết tuân thủ pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng:
[7.1] Đối với 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của phòng K Công an tỉnh B cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
[7.2] Đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số IMEI 1: 353134102607926; IMEI 2: 353134102689437, gắm sim số “0975.469.584”, đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án là phù hợp với quy định khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7.3] Đối với số tiền 1.100.000 đồng của bà bà Hoàng Thị L nhờ bị cáo đi bán trứng mà có không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bà Hoàng Thị L là phù hợp với quy định khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật chứng và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.
[9] Đối với người đàn ông bán ma túy, bị cáo H khai không biết tên tuổi và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không làm rõ được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Tiếp tục tạm giam bị cáo Bùi Viết H 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQD14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[12] Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Viết H 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/10/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của phòng K Công an tỉnh B
- - Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số IMEI 1: 353134102607926; IMEI 2: 353134102689437, gắm sim số “0975.469.584”, đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại bà Hoàng Thị L số tiền 1.100.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu một trăm nghìn đồng)
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 26/QĐ – VKS ngày 15/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Viết H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
- Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu Hà |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Viết H 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/10/2024
