Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày: 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thanh Hương
  2. Ông Phạm Quốc Thái

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Khổng Sơn Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Mai Trọng N, sinh năm 1988, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: B N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Trọng N1 và bà Nguyễn Thị T; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 27/9/2012, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án sơ thẩm số 348/2012/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/01/2014, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm ngày 24/3/2022, chưa bồi thường dân sự; Ngày 18/10/2018, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án sơ thẩm số 370/2018/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2023, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 28/9/2020; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 10/11/2005, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xứ phạt 04 năm 06 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản" (Bản án sơ thẩm số 1618/2005/HSST) và ngày 24/4/2006, bị Tòa Phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, xử phạt 04 năm 06 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản” (Bản án phúc thẩm số 523/2006/HSPT), chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2009, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm ngày 13/11/2006; Ngày 17/8/2016, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” (Bản án sơ thẩm số 159/2016/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2017, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/5/2018; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2024 – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ, ngày 23/5/2024, anh Nguyễn Anh D cho Mai Trọng N, Nguyễn Long Đ, Võ Tuấn L đến ngủ cùng tại phòng trọ số A, nhà số I Đ, phường T, quận T, N ngủ trên gác lửng, Đ và L ngủ dưới đất. Đến khoảng 06 giờ, anh D đi làm, còn Đ và L ra ngoài đi chợ. Đến khoảng 08 giờ 30 phút, cùng ngày, Lê Anh T1 liên hệ nhờ N tìm nơi cầm cố xe gắn máy uy tín thì được N rủ tới phòng trọ số 01, tại số I Đ, phường T, quận T, thì T1 đồng ý. Lúc này, N cũng rủ thêm Đoàn Việt H là bạn bè quen trên mạng xã hội đến phòng trọ trên để quan hệ tình dục đồng giới thì H đồng ý. Đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, Lê Anh T1 đi cùng Lê Văn T2 và Đoàn Việt H tới phòng trọ số 01, tại số I Đ, phường T, quận T, thì được N rủ lên gác lửng, tại đây, N rủ T1, Trong và H sử dụng ma túy thì cả ba đồng ý. Lúc này, N lấy ma túy, cho ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rồi lần lượt đưa cho T1, Trong và H sử dụng, còn N tự mình sử dụng ma túy, cả nhóm sử dụng được 04 lần.

Sau đó, khoảng 09 giờ 30 phút, Công an phường T đã tiến hành kiểm tra hành chính, bắt quả tang Mai Trọng N, Lê Anh T1, Lê Văn T2 và Đoàn Việt H đang sử dụng ma túy, tại hiện trường thu giữ được 01 gói nylon kích thước 2x2,5cm, chứa tinh thể không màu nghi là ma túy, 01 bao lì xì màu vàng kích thước 8x8 cm, bên trong có 01 gói nylon lớn kích thước 9x6 cm, bên trong có 04 túi nylon kích thước 2x2,5 cm, chứa tinh thể không màu nghi là ma túy, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai có gắn nỏ thủy tinh và 02 ống hút nhựa, 01 bật lửa màu đen nên Công an phường T đã đưa tất cả người liên quan, cùng tang vật về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Mai Trọng N dã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên. Về nguồn gốc ma túy, N khai đã mua của một người tên T3 (không rõ lai lịch), với giá 1.500.000 đồng. Sau đó vào ngày 23/5/2024, N đã rủ Lê Anh T1, Lê Văn T2 và Đoàn Việt H sử dụng ma túy. Việc tổ chức sử dụng ma túy tại phòng trọ số A, tại số I Đ, phường T, quận T, là do N tự ý thực hiện, Lê Anh T1, Lê Văn T2 và Đoàn Việt H không tham gia bàn bạc, không góp tiền cùng với N mua ma túy để sử dụng, việc mua, chuẩn bị ma túy là do N tự thực hiện. Ngoài ra, anh Nguyễn Anh D, Nguyễn Long Đ, Võ Tuấn L hoàn toàn không biết, không tham gia và không liên quan. Kết luận giám định số 6342/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K, Công an Thành phố H, kết luận: “- Gói 1: Tỉnh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,2167g (không phẩy hai một sáu bảy gam), loại Methamphetamine. - Gói 2: Tinh thể được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,9064g (không phẩy chín không sáu bốn gam), loại Methamphetamine." (Bút lục 28)

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 bao lì xì, màu vàng.
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai có gắn nỏ thủy tinh, 02 ống hút nhựa và 01 bật lửa màu đen.
  • 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trịnh Hải T4 (Giám định viên), Lê Nam H1 (Điều tra viên).
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, bị bể màn hình, số imei: 869945060501091, là điện thoại của Mai Trọng N dùng để liên lạc cá nhân.

Hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 64/PNK ngày 15/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T

Tại Bản cáo trạng số: 41/CT-VKSQTP ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Mai Trọng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 2 Điều 249, điểm b, h khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Mai Trọng Nhân T5 05 năm đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 2 tội là 13 năm đến 15 năm tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Trọng N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 09 giờ 20 phút, ngày 23/5/2024 tại phòng trọ số A, tại số I Đ, phường T, quận T, Mai Trọng N đã có hành vi tổ chức cho các đối tượng Lê Anh T1, Lê Văn T2 và Đoàn Việt H sử dụng ma túy. Đồng thời qua khám xét, Mai Trọng N còn có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng ma túy là 1,1231g Methamphetamine. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an, đến sức khỏe của con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội mà còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người đã thành niên nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

Đối với Lê Anh T1, Lê Văn T2 và Đoàn Việt H không tham gia bàn bạc, không góp tiền cùng với Mai Trọng N mua ma túy để sử dụng, việc N mua, chuẩn bị ma túy là do N tự thực hiện nên Cơ quan điều tra không xử lý hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là có cơ sở. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người tên T3, bán ma túy cho Mai Trọng N, do N không biết rõ nhân thân lai lịch nên chưa làm việc được. Cơ quan điều tra đang tiến hành xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

Đối với anh Nguyễn Anh D, Nguyễn Long Đ, Võ Tuấn L cùng ở tại phòng trọ số A, tại số I Đ, phường T, quận T việc Mai Trọng N, Lê Anh T1, Lê Văn T2 và Đoàn Việt H sử dụng ma túy tại phòng trọ không ai biết nên Cơ quan điều tra không xử lý hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là có cơ sở.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tình tiết tái phạm nguy hiểm đã là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt nên không được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • 01 bao lì xì, màu vàng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai có gắn nỏ thủy tinh, 02 ống hút nhựa và 01 bật lửa màu đen. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trịnh Hải T4 (Giám định viên), Lê Nam H1 (Điều tra viên). Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng cấm lưu hành do đó cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, bị bể màn hình, số imei: 869945060501091, là điện thoại của Mai Trọng N dùng để liên lạc cá nhân. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội do đó cần trả lại cho bị cáo

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ Điều 249 và Điều 255 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Mai Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[2] Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Mai Trọng N 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Mai Trọng N 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 13 (mười ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 bao lì xì, màu vàng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai có gắn nỏ thủy tinh, 02 ống hút nhựa và 01 bật lửa màu đen; 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trịnh Hải T4 (Giám định viên), Lê Nam H1 (Điều tra viên).
  • Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, bị bể màn hình, số imei: 869945060501091.

(Tất cả các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 64/PNK ngày 15/01/2025 của Công an quận T).

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[5] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • VKSND quận Tân Phú (3);
  • THADS quận Tân Phú (1);
  • THAHS quận Tân Phú (5);
  • Phòng PC53 CA Tp. HCM (1);
  • Nhà tạm giữ (2);
  • Bị cáo (1);
  • Sở Tư Pháp (1);
  • Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (18)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger