Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HSST

Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Bích

2. Bà Lý Thị Kim Hân

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Quang Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/HSST ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Minh Đ

(có mặt) Sinh ngày 02/02/1994; Nơi sinh: Cần Thơ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12.

Nơi thường trú: Số D, N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Họ và tên cha: Lê H (chết).

Họ và tên mẹ: Võ Thị Thu T sinh năm 1959.

Anh chị em ruột: 06 người, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1985.

Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: 01 lần. Ngày 17/7/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số

41/2014/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/8/2020, chưa nộp phạt bổ sung số tiền 15.000.000 đồng.

Tiền sự: 01 lần. Bị Công an phường T, quận N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền 1.500.000 đồng, đóng phạt ngày 09/12/2024.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/11/2024, chuyển tạm giam ngày 16/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi tiếp nhận tin báo của người dân, vào khoảng 17 giờ 40 phút ngày 06/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N cùng Công an phường C tiến hành khám xét khẩn cấp nhà số B, N, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. Lúc này trong nhà chỉ có bị cáo Lê Minh Đ, qua khám xét Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ tang vật gồm:

  • - 01 gói nilon màu đỏ, nẹp miệng, bên trong chứa tinh thể không màu được để trong túi đeo màu đen của Lê Minh Đ.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme ui, màu đen gắn sim số 0939627862;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu trắng gắn sim 4G, 01 túi đeo màu đen.

Tại bản kết luận giám định số 369/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon màu đỏ gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4448 gam.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận bị cáo có sử dụng ma túy, số ma túy bị thu giữ là của bị cáo tàng trữ trái phép nhằm mục đích sử dụng. Khoảng 16 giờ ngày 06/11/2024 bị cáo đến nhà số B, N, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ để dọn dẹp nhà giúp bạn sau đó bị lực lượng Công an kiểm tra thu giữ tang vật là gói ma túy, loại Methamphetamine trong túi đeo của bị cáo. Gói ma túy bị cáo đã mua của đối tượng nam (không biết tên và địa chỉ) tại công viên L với giá 500.000 đồng và để trong túi đeo, chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Đối với đối tượng bán trái phép chất ma túy cho bị cáo. Do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSNK ngày 15 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Realme ui, màu đen gắn sim số 0939627862 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu trắng gắn sim 4G bị cáo sử dụng cá nhân, không liên quan hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo đề nghị được nhận lại. Đối với túi đeo màu đen bị cáo thống nhất tịch thu tiêu hủy.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản đã nêu trong cáo trạng số 31/CT-VKSNK ngày 15 tháng 01 năm 2025. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Về nhân thân bị cáo có 01 tiền án, 01 tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù giam.
  • Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 369/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K Công an thành phố C; 01 túi đeo màu đen vì bị cáo đồng ý tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme ui, màu đen gắn sim số 0939627862; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu trắng gắn sim 4G bị cáo đề nghị được nhận lại nên trả lại cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 17 giờ 40 ngày 06/11/2024 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà số C, N, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận số ma túy bị thu giữ là của bị cáo. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 369/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon màu đỏ gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4448 gam.

Xét thấy bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo hiểu biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý thể hiện ý thức pháp luật kém. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án, 01 tiền sự.

Do đó, cần một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra cũng như nhân thân của bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - Gói niêm phong số 369/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K Công an thành phố C là hàng cấm nên phải tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 túi đeo nàu đen bị cáo đồng ý tịch thu tiêu hủy nên cần phải tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme ui, màu đen gắn sim số 0939627862; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu trắng gắn sim 4G, 01 túi đeo màu đen, đã qua sử dụng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa làm rõ là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/01/2025 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành dân sự N).

[5] Về án phí:

Bị cáo Lê Minh Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  1. 1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Minh Đ 02 năm (Hai năm) tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.

  2. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    • - Tịch thu tiêu hủy: Gói niêm phong số 369/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K Công an thành phố C; 01 túi đeo màu đen, đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme ui, màu đen gắn sim số 0939627862; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu trắng gắn sim 4G, đã qua sử dụng.

    (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/02/2024 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành dân sự N).

  3. 3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Lê Minh Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. 4. Về kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND quận Ninh Kiều;
  • - Công an quận Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS quận Ninh Kiều;
  • - Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 33/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Đức phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Lê Minh Đức 02 năm (Hai năm) tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger