|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 24-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và ông Phạm Công Gia
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tùng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Quốc T – sinh năm 1995, tại Phú Yên
Nơi cư trú: Thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm B – sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1969; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện đang tại ngoại. (Có mặt)
- Bị hại: Ông Đặng Văn T1 – sinh năm 1976 (Đã chết)
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Q – sinh năm 1967
- Anh Đặng Minh T2 – sinh năm 1990
- Chị Đặng Thị T3 – sinh năm 1992
- Chị Đặng Thị Thu H – sinh năm 1994
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Quốc H1 – sinh năm 1989 (Có mặt)
- Chị Đặng Thị Thu T4 – sinh năm 1991 (Có mặt)
- Anh Nguyễn Minh P – sinh năm 1986 (Vắng mặt)
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên
Địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số A, phố K, phường Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng
Đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Văn D – Giám đốc
Địa chỉ trụ sở: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quốc T có Giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 21/11/2016 có giá trị đến ngày 07/12/2026.
Vào khoảng 22 giờ 49 phút ngày 16/5/2024, Phạm Quốc T điều khiển xe ô tô biển số 60C-666.14 chở theo Phạm Quốc H1 (anh của T) lưu thông trên quốc lộ B theo hướng Lâm Đồng - D. Khi đi tới Km 57+80m, Quốc lộ B thuộc khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, T không chú ý quan sát nên đã điều khiển xe ô tô chuyển từ làn đường giành cho xe cơ giới sang làn đường dành cho xe thô sơ và đang di chuyển chậm thì ông Đặng Văn T1 điều khiển xe mô tô biển số 35F8-6309 lưu thông cùng chiều phía sau đụng vào đuôi xe ô tô biển số 60C-666.14 rồi té ngã ra làn đường dành cho xe cơ giới. Liền đó, anh Nguyễn Minh P điều khiển xe ô tô tải biển số 49C-071.25 lưu thông cùng chiều phía sau đụng vào ông Đặng Văn T1 gây tai nạn giao thông.
Hậu quả: Ông Đặng Văn T1 tử vong tại hiện trường.
Tại kết luận giám định tử thi số 143/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 10/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: “Kết luận nguyên nhân chết do đa chấn thương. Chấn thương sọ não gây vỡ sọ thái dương phải, chảy máu nội sọ; Chấn thương ngực – bụng gây biến dạng gãy sụn mạn sườn hai bên, gãy ngang cột sống biến dạng lệch cột sống, rách da vùng bụng thấy tạng thoát ra ngoài. Kết luận khác: Nồng độ cồn trong máu: Nồng độ ethanol trong máu toàn phần 220,89 mg/100ml.”
Về nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông: Do Phạm Quốc T điều khiển xe ô tô chuyển hướng không chú ý quan sát, không đảm bảo điều kiện an toàn gây tai nạn giao thông.
Theo Cáo trạng số 37/CT-VKSTP-ĐN ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Phạm Quốc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Điều 65 xử phạt bị cáo Phạm Quốc T mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại đã tự thỏa thuận về chi phí mai táng và bồi thường thiệt hại; người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn bãi nại về dân sự cho bị cáo nên không đề nghị xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi về việc vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị là tương xứng với hành vi của bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận và xin lỗi gia đình bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở đề Hội đồng xét xử xác định:
Phạm Quốc T có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật. Vào hồi 22 giờ 49 phút, ngày 16/5/2024, tại Km 57+80m, Quốc lộ B thuộc Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phạm Quốc T điều khiển xe ô tô biển số 60C-666.14 chuyển hướng không chú ý quan sát, không đảm bảo điều kiện an toàn gây tai nạn giao thông đường bộ làm ông Đặng Văn T1 tử vong.
Hành vi của Phạm Quốc T đã vi phạm khoản 1 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ: “Trên đường có nhiều làn đường cho xe chạy cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người lái xe phải cho xe chạy trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn."
Hành vi của Phạm Quốc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Ngoài ra còn xem xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; chưa có tiền án tiền sự; bị hại có một phần lỗi do tham gia giao thông sử dụng rượu bia có nồng độ cồn vượt mức quy định và điều khiển xe không giữ khoảng cách an toàn với xe liền kề phía trước; người đại diện hợp pháp cho bị hại đã có đơn bãi nại về phần dân sự cho bị cáo. Tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về căn cứ quyết định hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, an toàn giao thông, không những gây ra thiệt hại về tài sản, tính mạng của người khác mà còn gây hoang mang lo sợ cho những người tham gia giao thông, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.
Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ được hành vi của mình. Bị cáo không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông, đã điều khiển xe ô tô đi không đúng phần đường quy định gây ra tai nạn làm bị hại bị thương tích nặng dẫn đến tử vong, với lỗi vô ý.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
[6] Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn và đại diện hợp pháp bị hại đã tự thỏa thuận về chi phí mai táng và bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp bị hại đã có đơn bãi nại và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đã trao trả các xe liên quan đến vụ tai nạn giao thông cho chủ sở hữu, việc giao trả các vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 07/12/2021, có giá trị đến ngày 07/12/2026 là cấp cho Phạm Quốc T nên cần trao trả cho bị cáo là đúng quy định pháp luật.
Đối với 01 đĩa DVD được trích xuất từ camara hành trình của xe ô tô biển số 60C-666.14 ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông đường bộ là chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội được chuyển cùng hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử xem xét lưu hồ sơ vụ án.
[7] Các vấn đề khác: Đối với hành vi của ông Nguyễn Minh P điều khiển xe ô tô tải biển số 49C-071.25, khi vụ án xảy ra thì do sự kiện bất ngờ nên hành vi của ông P không vi phạm pháp luật hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
òaHHJJJJJjjjdncncsnjcjjjjjjneqjd'unhfcowiujJjznqdsnhhudhh
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 260; khoản 1 Điều 46; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Phạm Quốc T 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 07/12/2021, có giá trị đến ngày 07/12/2026.
- Về án phí: Bị cáo Phạm Quốc T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, anh H1, chị T4 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, anh P, Công ty trách nhiệm hữu hạn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 08 (T5) tháng tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 24/02/2025).
Giao bị cáo Phạm Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Lưu vào hồ sơ vụ án đối với 01 đĩa DVD được trích xuất từ camara hành trình của xe ô tô biển số 60C-666.14 ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông đường bộ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Xuân Hồng |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHẠM QUỐC THẢO Đ260
