TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 24 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Hồng Phúc; Bà Nguyễn Thị Quy .
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 21/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 22/01/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Thanh Q – sinh năm 1987 tại Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nơi thường trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (Nơi cư trú: Ấp (thôn ), xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai); Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Trương Quang T – sinh năm 1958 và bà Hồ Thị X – sinh năm 1967; Có vợ Đặng Thị Diễm T1 – sinh năm 1995 và 01 con sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: Không.
* Nhân thân:
- Tại Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, xử phạt Trương Thanh Q 02 năm 06 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra ngày 05/7/2023.
- Ngày 17/10/2024 bị Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận, khởi tố về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bắt ngày 28/02/2024 và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ đến nay “có mặt”.
- Nguyên đơn dân sự:
1/ Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2
Người đại diện: Ông Cao Đức T2 – sinh năm 1960, địa chỉ: 2216, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
2/ Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2
Người đại diện: Chị Nguyễn Thị Minh N - sinh năm 1988, địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1999; Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong các ngày 04/11/2023 và ngày 19/02/2024, trên địa bàn huyện Đ, Trương Thanh Q đã thực hiện 02 vụ “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2. Cụ thể như sau:
1) Vụ thứ nhất:
Vào khoảng 07 giờ ngày 04/11/2023, Q sử dụng điện thoại Nokia 106 có số thuê bao 0523.849.981, tự xưng tên là “Phan Thanh H” gọi điện cho bà Nguyễn Thị Thanh N1 (là quản lý của Công ty C2) hỏi mua 230 thùng nước ngọt Sting dâu (loại 24 chai/thùng; 330ml/chai) và 80 thùng nước suối loại Aquafina, với phương thức thanh toán: giao hàng thì trả tiền. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Q đón xe ôm đi từ xã B, huyện T đến nhà của ông Ngô Văn C thuộc ấp P, xã L, huyện Đ, xin ông C cho mượn sân nhà để tạm các thùng nước thì ông C đồng ý. Sau đó, Q liên lạc cho 01 xe ô tô tải (xe chở thuê có địa chỉ tại ngã ba D và Q không nhớ biển số của xe ô tô trên) đến nhà của ông C để chở hàng hoá mà Q đã gọi công ty chở đến. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, anh Vũ Chu T3, anh Nguyễn Ngọc T4 và anh Chề Tấn S (là các nhân viên của Công ty C2) chở hàng đến sân nhà của ông C để giao cho Q. Khi nhận hàng, Q nói với nhân viên của bà N1 chuyển 230 thùng nước ngọt S1 dâu lên xe tải của Q thuê còn 80 thùng nước suối loại Aquafina để lại ở sân sẽ quay lại lấy sau. Sau khi chuyển hàng lên xe của Q xong thì Q nói với nhân viên của Công ty C2 ở lại nhà chờ Q và Q nói là “chở nước qua đây giao xong quay lại gửi tiền”. Sau đó, Q lên xe tải của Q thuê và yêu cầu tài xế xe tải chở 230 thùng nước ngọt Sting dâu đến 01 bãi đất trống thuộc xã B, huyện T và để ở đó rồi trả cho tài xế xe tải với số tiền 1.600.000đ. Do không bán được cho các đại lý bia nước ngọt trên địa bàn xã B, huyện T nên Q tiến hành bán lẻ cho khách vãng lai (không rõ danh tính) hết 230 thùng nước ngọt S1 dâu với số tiền 38.400.000 đồng. Số tiền có được Q đã tiêu xài cá nhân hết.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, kết luận: 230 thùng nước ngọt Sting dâu, loại 24 chai/thùng; 330ml/chai có giá trị là 42.688.000 đồng (Bút lục số 30).
Công ty C2 yêu cầu Q bồi thường thiệt hại 230 thùng nước ngọt Sting dâu với số tiền 42.000.000đ nhưng đến nay Q chưa bồi thường.
Đối với 80 thùng nước suối loại Aquafina Công an đã thu hồi, trao trả cho Công ty C2; Công ty C2 không yêu cầu bồi thường gì.
2) Vụ thứ hai:
Vào khoảng 10 giờ ngày 19/02/2024, Q sử dụng số điện thoại 0927.764.xxx, Q tự xưng tên là Đ - điện thoại cho anh Trần Cao T5 (là quản lý của Công ty C2) đặt mua 100 thùng nước ngọt hiệu Dr.T6, 100 thùng nước ngọt hiệu Trà xanh không độ và 60 thùng nước suối hiệu Aquafina, với phương thức thanh toán: giao hàng thì trả tiền. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Q sử dụng số điện thoại 0927.764.xxx gọi đến số điện thoại 0941.213.xxx của dịch vụ vận tải “Minh Cơ” do anh Hồ Minh C1, sinh năm 1987, trú tại: tổ D, khu phố T, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai làm chủ để thuê 01 xe ô tô tải để đi đến ấp A, xã G, huyện Đ vận chuyển hàng đặt từ Công ty C2 đã đặt hàng trước đó thì anh C1 đồng ý. Đến khoảng 05 giờ 00 ngày 20/02/2024, Q sử dụng điện thoại Nokia N1280 màu đen số thuê bao 0379.142.456 liên lạc đến số thuê bao 0933.776.320 của ông Lê Văn B, sinh năm 1970, trú tại khu phố A, phường. An Hòa, thành phố B (là người hành nghề xe ôm) thuê đến thôn A, xã B, huyện T để chở Q đến xã G, huyện Đ thì ông B đồng ý. Khi đến huyện Đ, Q kêu ông B đứng chờ Q rồi Q lấy xe của ông B để đi đến nhà bà Bùi Thị P, sinh năm 1959 tại ấp C, xã P, Q xin bà P cho để xin nhờ các thùng nước của đại lý đem đến giao, bà P đồng ý. Sau đó, Q liên lạc hướng dẫn anh C1 đến trước nhà bà P đợi sẵn. Đến khoảng 10 giờ ngày 20/02/2024, anh Nguyễn Trọng N2, anh Vũ Thái N3 và anh Vòng Cá D (là nhân viên của Công ty C2) chở hàng đến giao. Q nói dối với nhân viên giao hàng của anh T5 nhà bà P là nhà của Q đang ở và yêu cầu nhân viên vận chuyển 60 thùng nước suối đang để tại sân nhà bà P và chuyển 100 thùng nước giải khát Dr.thanh, loại 24 chai/1 thùng và 100 thùng nước giải khát trà xanh không độ, loại 24 chai/1 thùng qua xe tải hiệu Hino biển số: 69H – 004.21 của Q thuê. Sau khi chuyển hàng xong thì Q nói với nhân viên giao hàng của anh T5 ở lại nhà chờ để Q chở vợ đi lấy tiền trả tiền hàng rồi Q lên xe ô tô tải biển số: 69H – 004.21 đi ra đầu đường A thì xuống xe đồng thời yêu cầu tài xế xe tải chở hàng đến huyện T còn Q đi bộ quay lại nơi ông B đang chờ rồi lên xe ông B đi theo xe tải đến 01 đại lý bia nước ngọt (không rõ địa chỉ) thuộc huyện T để bán số nước ngọt đã chiếm đoạt nhưng sau khi chủ của đại lý này mở 01 thùng nước giải khát Dr.thanh và 01 thùng nước giải khát trà xanh không độ kiểm tra xong thì không mua. Sau đó, Q gọi cho anh C1 bỏ lại 02 thùng nước trên và Q liên lạc đến đại lý bia nước ngọt “L” do anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1999 làm chủ thuộc tổ A, khu phố B, thị trấn V, huyện V để bán 99 thùng nước giải khát Dr.thanh và 99 thùng nước giải khát trà xanh không độ với giá 32.670.000 đồng thì anh L đồng ý. Sau đó, Q yêu cầu anh C1 chở hàng đến đại lý “L” bốc hàng xuống rồi lấy tiền của đại lý còn Q đi đến thị trấn V đứng đợi và anh C1 đưa cho Q số tiền 29.700.000 đồng (sau khi trừ
tiền xe cho anh C1). Nhận tiền xong, Q kêu ông B chở Q về lại nhà trọ thuộc huyện T và Q trả tiền xe cho ông B 1.200.000 đồng. Số tiền có được Q đã tiêu xài cá nhân hết.
* Vật chứng thu giữ:
- 99 thùng nước giải khát Dr.thanh, loại 24 chai/1 thùng;
- 53 thùng nước giải khát trà xanh không độ, loại 24 chai/1 thùng.
- 01 điện thoại Nokia 106, màu xanh;
- 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu WAVE biển số 60F3 - 686.97;
- 01 xe ô tô biển số 69H - 00421, nhãn hiệu HINO.
* Tài sản thiệt hại: Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 19/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, kết luận: 100 thùng nước giải khát Dr.thanh, loại 24 chai/1 thùng và 100 thùng nước giải khát Trà xanh không độ, loại 24 chai/1 thùng có tổng giá trị là 34.861.100 đồng (Bút lục số 25).
* Trách nhiệm dân sự: Công ty C2 yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 7.891.000 đồng nhưng hiện nay Q chưa bồi thường.
Anh Nguyễn Thanh L yêu cầu Q bồi thường thiệt hại số tiền 25.540.000 đồng nhưng hiện nay Q chưa bồi thường cho anh L.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, Trương Thanh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân (Các bút lục số 82, 83, 88, 89, 97, 100, 120 - 127).
Tại Cáo trạng số 43/CT-VKSĐQ, ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Trương Thanh Q thực hiện đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tranh tụng tại phiên tòa:
1/ Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Thanh Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù và tổng hợp hình phạt của bản án tại tỉnh Bình Dương.
Kiểm sát viên còn nêu quan điểm về biện pháp tư pháp và chịu án phí của vụ án.
2/ Bị cáo Trương Thanh Q thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo đồng ý bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 số tiền 42.000.000đ; bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 số tiền 7.891.000đ; bồi thường cho anh Nguyễn Thanh L số tiền 25.540.000₫.
3/ Đại diện Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 42.000.000đ, không yêu cầu gì khác.
4/ Đại diện Công ty Trách nhiệm hữu hạC2 Trần Cao T5 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.891.000đ không yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trương Thanh Q đã khai nhận tội; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận:
Trong các ngày 04/11/2023 và ngày 19/02/2024, trên địa bàn huyện Đ, Trương Thanh Q đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 thùng nước ngọt hiệu Sting dâu (loại 24 chai/thùng; 330ml/chai) có giá trị 42.688.000đ và chiếm đoạt của Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 thùng nước giải khát hiệu Dr.thanh (loại 24 chai/1 thùng) và 100 thùng nước giải khát hiệu Trà xanh không độ (loại 24 chai/1 thùng) có giá trị 23.467.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 66.155.000 đồng.
Hành vi bị cáo Trương Thanh Q đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo Trương Thanh Q là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải xét xử và tuyên cho bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:
Do đã gộp số tiền của 02 lần phạm tội để định khung hình phạt nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự với Tổ quốc (bút lục 73) nên được giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về tổng hợp hình phạt: Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, xử phạt Trương Thanh Q 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra ngày 05/7/2023 tại thành phố T. Bản án đã có hiệu lực nên Tòa án tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung theo Điều 56 Bộ luật hình sự.
[6] Về biện pháp tư pháp
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 yêu cầu bị cáo Trương Thanh Q bồi thường thiệt hại số tiền 42.000.000đ; Bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận.
- Công ty Trách nhiệm hữu hạC2 Trần Cao T5 yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại số tiền 7.891.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận. Đối với 99 thùng nước giải khát Dr.thanh, loại 24 chai/1 thùng và 53 thùng nước giải khát trà xanh không độ, loại 24 chai/1 thùng đã trao trả cho chị N; chị N không yêu cầu gì nên miễn xét.
- Anh Nguyễn Thanh L yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại số tiền 25.540.000đ và bị cáo đồng ý nên Tòa án ghi nhận.
- Đối với anh Nguyễn Thanh L: Khi mua tài sản của Trương Thanh Q, anh L không biết đây là tài sản do Q phạm tội mà có. Ngày 20/02/2024, anh L tự nguyện giao nộp tài sản cho Cơ quan điều tra. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ không xử lý đối với anh L về hành vi” Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Đối với điện thoại Nokia 106, màu xanh và điện thoại Nokia 1280 màu đen của bị cáo Q: Là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với những người vãng lai trên địa bàn xã B, huyện T đã mua 230 thùng nước ngọt Sting dâu. Do không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể nên không có cơ sở xử lý.
- Đối với 01 thùng nước giải khát Dr.thanh và 01 thùng nước giải khát trà xanh không độ Trương Thanh Q bỏ lại đại lý bia nước ngọt thuộc huyện T: Do không thu hồi được nên không xử lý.
- Đối với ông Lê Văn B, ông Hồ Minh C1, ông Ngô Văn C và bà Bùi Thị P: Quá trình điều tra, xác định không biết mục đích chiếm đoạt tài sản của Trường T7 nên Cơ quan điều tra không xử lý vai trò đồng phạm với Q của ông C1, ông B, ông C và bà P.
[7] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 3.771.550đ án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Thanh Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2/ Về điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí.
3/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Thanh Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2024.
4/ Về biện pháp tư pháp:
- Buộc bị cáo bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 số tiền 42.000.000đ, bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 số tiền 7.891.000₫ và bồi thường cho anh Nguyễn Thanh L số tiền 25.540.000đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước điện thoại Nokia 106, màu xanh và điện thoại Nokia 1280 màu đen
5/ Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 3.771.550đ án phí dân sự có giá ngạch.
Bị cáo, Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2, Công ty Trách nhiệm hữu hạn C2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thanh L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Xuân Hòa |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thanh Q phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
