|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 21-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Chung – Chủ tịch Hội LHPN phường Vị Xuyên
Bà Nguyễn Thị Minh Loan – Giáo viên nghỉ hưu
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn N, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1987; Nơi sinh tỉnh Thanh Hoá; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Bùi Văn Đ, sinh năm 1963; Con bà: Quách Thị C, sinh năm 1964; Gia đình có 3 anh em, bị can là thứ hai; có vợ Vũ Thị D, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị tạm giữ từ ngày 16-11-2024 đến ngày 25-11-2024 chuyển tạm giam. Hiện đạng bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: cháu Phạm Thị Diệu T, sinh ngày 18-05-2010; nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình; Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Thế B, sinh năm 1968 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1973; nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình. Ông B và bà H vắng mặt tại phiên toà
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: bà Trần Thị T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý, Sở Tư pháp tỉnh Nam Định. Có mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Bùi Văn N và cháu Phạm Thị Diệu T, sinh ngày 18-5-2010, giới tính nữ; nơi cư trú tại thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình có quan hệ tình cảm với nhau từ khoảng đầu tháng 10/2024, N biết rõ ngày tháng năm sinh của cháu T. Ngày 10-10-2024, N sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “N” nhắn tin đến tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Bùi Hương” của T hẹn gặp tại cổng Ủy ban nhân dân xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình. Khoảng 16 giờ cùng ngày, N đón cháu T và đưa đến phòng 304 nhà nghỉ N1 tại thôn H, xã M, thành phố N. Tại đây N ôm, hôn môi và dùng tay phải sờ vào ngực cháu T phía bên ngoài áo.
Ngày 28-10-2024, N tiếp tục nhắn tin hẹn cháu T. Khoảng 16 giờ cùng ngày, N đón cháu T và đưa đến phòng 304 nhà nghỉ N1 tại thôn H, xã M, thành phố N. N và cháu T tự cởi quần áo của mình rồi N nằm lên người và dùng tay sờ ngực cháu T. Khoảng 5 phút sau, N giao cấu với cháu T, được khoảng 5 phút thì cháu T kêu đau nên N rút dương vật ra khỏi âm đạo của cháu T và không xuất tinh. Sau đó cả hai tự mặc quần áo của mình và N đưa cháu T về nhà.
Ngày 15-11-2024 sau khi được cháu T kể lại sự việc, ông Phạm Thế B (là bố cháu T) đã đến Cơ quan Công an trình báo. Tại Cơ quan điều tra cháu T khai nhận nội dung vụ việc và tự nguyện giao nộp 01 bộ quần áo ngắn tay màu nâu nhạt, 01 áo lót màu hồng, 01 quần lót màu trắng mặc khi quan hệ tình dục với N. Quá trình điều tra cháu T khai báo bản thân hoàn toàn tự nguyện quan hệ tình dục với N.
Cơ quan điều tra đã đưa cháu T đi khám tại Bệnh viện phụ sản tỉnh N. Giấy chứng nhận giám định số 1083/CN-BVPS ngày 16-11-2024 của Bệnh viện phụ sản tỉnh N kết luận:
- - Màng trinh không bầm tím, không trầy xước, không chảy máu.
- - Hiện tại T không có thai.
- - Trong mẫu bệnh phẩm không có xác tinh trùng.
Ngày 15-11-2024, Bùi Văn N đã đến Cơ quan điều tra đầu thú và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình;
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố N đã tiến hành trưng cầu giám định pháy y về tình dục. Tại kết luận giám định khả năng tình dục nam số 58/KLKNTD-TTGĐYK&PY ngày 26-11-2024 của Trung tâm Giám định y khoa pháp y Sở Y tế tỉnh H, kết luận: Trên cơ thể và bộ phận sinh dục ngoài của Bùi Văn N không thấy tổn thương do ngoại lực; Quá trình khám giám định, xác định Bùi Văn N tại thời điểm giám định đủ khả năng sinh lý làm cương cứng dương vật để quan hệ tình dục; Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 57/KLTDTE-TTGĐYK&PY ngày 26-11-2024 của Trung tâm Giám định y khoa pháp y Sở Y tế tỉnh H, kết luận: Trên cơ thể và bộ phận sinh dục ngoài của Phạm Thị Diệu T không thấy tổn thương do ngoại lực; Màng trinh rách cũ ở vị trí 3 giờ; Không thấy hình ảnh tinh trùng trên phiến đồ âm đạo;
Cơ quan điều tra đã đưa Bùi Văn N đi xét nghiệm HIV, kết quả xét nghiệm xác định N âm tính với HIV.
Về vấn đề trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Văn N đã tác động để gia đình bồi thường cho cháu Phạm Thị Diệu T số tiền 20.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của cháu T là ông B đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Bùi Văn N.
Bản Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Bùi Văn N tội "Dâm ô với người dưới 16 tuổi” theo điểm c khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự và tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Bùi Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Văn N theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội "Dâm ô với người dưới 16 tuổi” và tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội "Dâm ô với người dưới 16 tuổi” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 03 tháng tù
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng đã thu giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn N và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Đơn trình báo của người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của bị cáo Bùi Văn N, lời khai bị hại; Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Do có mối quan hệ yêu đương thông qua mạng xã hội nên khoảng 16 giờ ngày 10-10-2024, tại phòng 304 nhà nghỉ N1, địa chỉ thôn H, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định, Bùi Văn N đã ôm, hôn vào môi và dùng tay sờ vào ngực cháu Phạm Thị Diệu T khi cháu T mới được 14 năm 04 tháng 23 ngày tuổi. Cũng tại phòng nghỉ trên, vào khoảng 16 giờ ngày 28-10-2024 Bùi Văn N và cháu Phạm Thị Diệu T đã tự nguyện giao cấu với nhau khi cháu T mới được 14 năm 05 tháng 10 ngày tuổi. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong dư luận. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, bị cáo đã phạm tội "Dâm ô với người dưới 16 tuổi” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự và tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
*Trợ giúp viên pháp lý nhất trí với nội dung bản cáo trạng cũng như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định về hành vi phạm tội đối với bị cáo Bùi Văn N và đề nghị xét xử bị cáo Bùi Văn N theo đúng quy định của pháp luật với một mức án hợp lý, thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật, có đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, cũng kính mong Hội đồng xét xử cân nhắc đến sự khoan hồng của pháp luật cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa sai lầm, khuyết điểm để bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn N và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Đơn trình báo của người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của bị cáo Bùi Văn N, lời khai bị hại; Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Do có mối quan hệ yêu đương thông qua mạng xã hội nên khoảng 16 giờ ngày 10-10-2024, tại phòng 304 nhà nghỉ N1, địa chỉ thôn H, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định, Bùi Văn N đã ôm, hôn vào môi và dùng tay sờ vào ngực cháu Phạm Thị Diệu T khi cháu T mới được 14 năm 04 tháng 23 ngày tuổi. Cũng tại phòng nghỉ trên, vào khoảng 16 giờ ngày 28-10-2024 Bùi Văn N và cháu Phạm Thị Diệu T đã tự nguyện giao cấu với nhau khi cháu T mới được 14 năm 05 tháng 10 ngày tuổi. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong dư luận. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, bị cáo đã phạm tội "Dâm ô với người dưới 16 tuổi” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự và tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại cũng có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vấn đề trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại là cháu Phạm Thị Diệu T đã được bị cáo Bùi Văn N bồi thường toàn bộ thiệt hại, và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bộ quần áo ngủ màu nâu nhạt, 01 áo lót màu hồng, 01 quần lót màu hồng, 01 quần lót màu trắng của cháu Phạm Thị Diệu T đã qua sử dụng không còn giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với hành vi không thực hiện đầy đủ quy trình kiểm tra, lưu trữ thông tin của khách đến lưu trú của chị Chu Thị P (chủ nhà nghỉ N1), Công an thành phố N đã quyết định xử phạt hành chính là đúng qui định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn N bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 146; khoản 1 Điều 145; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội "Dâm ô với người dưới 16 tuổi” và tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ quần áo ngủ màu nâu nhạt, 01 áo lót màu hồng, 01 quần lót màu hồng, 01 quần lót màu trắng của cháu Phạm Thị Diệu T. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định)
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Văn N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo phần nội dung bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bị hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù về tội "Dâm ô với người dưới 16 tuổi” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành cho cả hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16-11-2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Người TGTT;
- - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - Công an TP. Nam Định;
- - Chi cục THADS TP. Nam Định;
- - Lưu hồ sơ vụ án + VT.
| CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | Lương Thị Kim Huế |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Ninh phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
