Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-PT

Ngày 13 -11 - 2024

V/v Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Thẩm phán: Bà Đinh Cẩm Đào
Bà Châu Minh Hoàng
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thuý Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 31/2024/TLPT-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 146/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X; Sinh năm: 1975; Địa chỉ cư trú: Phòng trọ số 04, số nhà A, đường N, khóm F, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số A, đường Đ, khóm B, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Cao Minh T; Sinh năm: 1975; Địa chỉ cư trú: số F, khóm F, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Tòa án không triệu tập):

  1. Bà Cao Thị T1, sinh năm 1947. Địa chỉ cư trú: Khóm D, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  2. Bà Cao Kim Á, sinh năm 1954. Địa chỉ cư trú: Khóm F, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  3. Ông Cao Xuân N, sinh năm 1955. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
  4. Bà Cao Kim P, sinh năm 1959. Địa chỉ cư trú: Ấp F, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  5. Ông Cao Văn H, sinh năm 1964. Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  6. Ông Cao Hoàng H1, sinh năm 1963 (chết).

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Cao Hoàng H1:

    • - Bà Trần Thị L, sinh năm 1965. Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
    • - Anh Cao Minh H2, sinh năm 1991. Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
    • - Anh Cao Hoàng H3, sinh năm 1999. Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
  7. Bà Cao Thị T2, sinh năm 1959. Địa chỉ cư trú: Khóm D, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  8. Bà Cao Kim T3, sinh năm 1964. Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  9. Ông Cao Minh T4, sinh năm 1971. Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau.
  10. Bà Cao Thị C, sinh năm 1973. Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  11. Bà Cao Kim E, sinh năm 1966. Địa chỉ cư trú: xã T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  12. Bà Cao Kim M, sinh năm 1968. Địa chỉ: xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: nhà T, tổ D, khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
  13. Ông Cao Quốc T5, sinh năm 1971. Địa chỉ: xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: ấp T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
  14. Bà Cao Thị H4, sinh năm 1986. Địa chỉ cư trú: Số A, ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  15. Ông Cao Quốc T6, sinh năm 1974. Địa chỉ cư trú: Số A, ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
  16. Ông Cao Quốc T7, sinh năm 1975. Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  17. Ông Cao Quốc T8, sinh năm 1979. Địa chỉ cư trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ Nguyễn Văn T9, khu B, khu B, B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  18. Ông Cao Quốc M1, sinh năm 1981. Địa chỉ cư trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở hiện nay: Đường H, tổ A, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
  19. Ông Cao Quốc N1, sinh năm 1983. Địa chỉ cư trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  20. Bà Cao Thị L1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số B, ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở: Nhà trọ Nguyễn Ngọc B số H đường H, tổ A khu phố B, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
  21. Bà Ngô Thanh T10, sinh năm 1974. Địa chỉ cư trú: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  22. Bà Ngô Kim T11, sinh năm 1975. Địa chỉ cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quang Nam.
  23. Ông Ngô Thị T12, sinh năm 1977. Địa chỉ cư trú: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
  24. Bà Ngô Thanh T13, sinh năm 1979. Địa chỉ cư trú: Đường D, Công ty G, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
  25. Ông Ngô Quốc T14, sinh năm 1984. Địa chỉ cư trú: Ấp F, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  26. Bà Cao Thùy L2, sinh năm 1984. Địa chỉ cư trú: Số A N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
  27. Bà Cao Thùy L3 (Cao Thị B1), sinh năm 1986. Địa chỉ cư trú: Số E Q, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị X, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị X trình bày tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Bà và ông Cao Minh T chung sống vào năm 1992 đến năm 2012 thì ly hôn theo Bản án số 21/2012/HNGĐ-ST ngày 08/3/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau; tại Bản án quyết định về phần tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên đến nay bà và ông T không tự thỏa thuận được. Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án bà yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Tài sản chung yêu cầu phân chia gồm có phần đất diện tích 18.399,7m², tọa lạc tại phường T, thành phố C.

Đối với phần đất thổ cư và đất vườn diện tích 3.069,7m² tại thửa 048, tờ bản đồ 05, tọa lạc ấp F, xã T, thành phố C (nay là khóm F, phường T, thành phố C). Bà yêu cầu được nhận phần đất ngang mặt tiền ngang 6m x dài hậu 100m, tổng diện tích 600m², có giá trị 42.000.000 đồng; phần đất còn lại giao cho ông T quản lý, sử dụng 2.469,7m², có giá trị 172.879.000 đồng.

Đối với phần đất sản xuất diện tích 15.330m², tại các thửa số 105, 111, 114, tờ bản đồ 05 tọa lạc ấp F, xã T, thành phố C (nay là khóm F, phường T, thành phố C). Bà yêu cầu chia mỗi người ½ diện tích, bà được nhận 7.665m², có giá trị 306.000.000 đồng; phần đất còn lại 7.665m², có giá trị 306.000.000 đồng giao cho ông T quản lý, sử dụng.

Tại phiên tòa, bà yêu cầu chia đôi mỗi người nhận ½ diện tích đất theo đo đạc thực tế, riêng đối với thửa 114 diện tích đo đạc lớn hơn giấy chứng nhận nhưng bà yêu cầu chia theo diện tích trong giấy chứng nhận, không yêu cầu chia diện tích thực tế. Bà không đồng ý với ý kiến của ông T cho rằng hai phần đất tại khóm F, phường T là tài sản riêng của ông T. Bà và ông T chung sống từ năm 1992 và được cấp giấy chứng nhận do bà và ông T cùng đứng tên từ năm 2003, do được cha và mẹ ông T để lại có tờ di chúc lập ngày 17/12/1993 do ông Y để lại, tờ di chúc không được công chứng, chứng thực theo quy định, hiện nay bà không giữ bản chính tờ di chúc này, nên không cung cấp được. Quá trình chung sống bà cùng ông T sử dụng phần đất nêu trên, có công sức đóng góp, tôn tạo đối với phần đất, cùng chăm lo, chăm sóc cha mẹ chồng, thờ cúng tổ tiên.

Đối với tài sản chung là 03 phần đất tọa lạc ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, tổng diện tích 22.455,4m², thửa 522, tờ bản đồ 04 diện tích 11.200m², thửa 27, tờ bản đồ 07, diện tích 9.984,8m²; thửa 65, tở bản đồ 07, diện tích 1.270,6m². Các phần đất này bà đồng ý chia đôi mỗi người nhận ½ diện tích và yêu cầu nhận được nhận tại phần ông T đang sử dụng hiện nay thửa 27, tờ bản đồ 07 diện tích 9.984m² và 1.242,9m² tại thửa 522, tờ bản đồ 04, hoặc chia mỗi người được nhận có phần giáp lộ, không đồng ý hiện trạng phân chia như ông T tự phân chia từ năm 2012, phần ông T sử dụng giáp lộ, còn phần chia cho bà bị vướng cầu, nên giá trị thấp hơn, nên bà không sử dụng đến nay. Bà yêu cầu tính giá trị đất do Nhà nước quy định.

Ngoài ra, bà và ông T còn còn hai thửa đất số 37, tờ bản đồ 04 và thửa 28 tờ bản đồ 07 tọa lạc ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Tuy nhiên hai phần đất này bà và ông T không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn ông Cao Minh T trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Ông thống nhất với trình bày của bà X về thời gian chung sống, ly hôn, về phần quyết định của Bản án đối với tài sản chung.

Ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà X, vì các phần đất nêu trên tọa lạc tại phường T, thành phố C như bà X trình bày không phải là tài sản chung của ông và bà X, bởi vì hai phần đất này có nguồn gốc trước thời kì hôn nhân, do cha mẹ ông là ông Cao Văn Y, chết năm 2003 và bà Trương Thị T15, chết năm 2000, sau khi cha mẹ chết thì được sự ủy quyền của các anh chị em cho ông quản lý, sử dụng để thờ cúng cha, mẹ. Các phần đất này được cấp Giấy chứng nhận do ông và bà X đứng tên. Tuy nhiên, ông không đồng ý sáp nhập tài sản chung của vợ chồng, ông xác định đây là tài sản của các anh chị em của ông, chưa phân chia thừa kế. Đối với tờ chúc của ông Y để lại theo bà X trình bày thì ông có biết nhưng do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không chấp nhận, do không có công chứng, chứng thực theo quy định, nên các anh chị em mới họp gia đình lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận, hiện nay ông không giữ bản chính tờ di chúc nêu trên; ông yêu cầu được nhận để thờ cúng cha, mẹ, tổ tiên, không đồng ý phân chia theo yêu cầu của bà X. Các con của ông Y và bà T15 gồm 15 người con: Ông là Cao Minh T; ông Cao Ngọc X1 (chết), có vợ và 11 người con; Cao Kim T16 (chết), có chồng và 05 người con; Cao Kim L4 (chết lúc nhỏ, không chồng con); Cao Kim Á; Cao Xuân N; Cao Văn N2 (chết), có vợ và 02 người con; Cao Kim T17; Cao Kim P; Cao Văn H; Cao Hoàng H1, chết năm 2024 có vợ và 02 người con; Cao Kim T18; Cao Kim T3; Cao Minh T4; Cao Kim C1 (cụ thể thông tin về những người thừa kế theo các tờ tông chi đã nộp).

Ông xác định tài sản chung của vợ chồng chỉ gồm 05 phần đất tọa lạc ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, cụ thể: Đối với 03 phần đất có tổng diện tích 22.455,4m², thửa 522, tờ bản đồ 04 diện tích 11.200m², thửa 27, tờ bản đồ 07, diện tích 9.984,8m²; thửa 65, tở bản đồ 07, diện tích 1.270,6m² loại đất nuôi trồng thủy sản. Tài sản này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Cao Minh T và Nguyễn Thị X đứng tên. Ông yêu cầu chia đôi mỗi người được nhận 11.227,7m². Ông yêu cầu được nhận thửa 27, tờ bản đồ 07 diện tích 9.984m² và 1.242,9m² tại thửa 522, tờ bản đồ 04; bà X được nhận tại vị trí thửa 65, tờ bản đồ 07, diện tích 1.270,6m² và diện tích 9.957,1m² tại thửa 522, tờ bản đồ 04. Đối với hai thửa đất số 37, tờ bản đồ 04 và thửa 28 tờ bản đồ 07 tọa lạc. Ông xác định ông và bà X không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Ông thống nhất với giá trị các phần đất như bà X trình bày như trên, không yêu cầu thẩm định giá. Đối với đất tại thị xã G đồng ý tính theo giá Nhà nước quy định.

Ông Cao Minh T4 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà X, ông Thống N3 với trình bày của ông T và các anh chị em của ông. Ông xác định đối với các phần đất tại phường T, thành phố C có nguồn gốc do cha và mẹ của ông để lại, các anh chị em của ông chưa chia thừa kế, chỉ giao quyền lại cho ông T quản lý, sử dụng để thờ cúng cha mẹ, tổ tiên, bà X không được hưởng trong các phần đất này.

Bà Cao Thị T1, bà Cao Kim Á, bà Cao Thị C, bà Cao Thị T2, bà Cao Thị P1, ông Cao Văn H, bà Cao Kim T3 trình bày:

Sau khi cha, mẹ chết tài sản nhà đất để lại, ông, bà và các anh chị em chưa được chia thừa kế, mà tạm giao quyền quản lý lại cho ông T. Do vậy, ông, bà không đồng ý chia khối tài sản này trong vụ án chia tài sản sau ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Ông, bà xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bà Ngô Thanh T13, bà Ngô Kim T11, bà Ngô Thị T12, ông Ngô Quốc T14, bà Ngô Thanh T10 trình bày:

Các ông, bà là cháu ngoại của ông Y và bà T15, là con của bà Cao Kim T16 (chết). Sau khi ông bà ngoại của ông bà chết thì lại các phần đất tại Phường T, thành phố C để lại, bà T16 chưa được chia thừa kế mà tạm giao quyền quản lý lại cho ông T. Do vậy, ông, bà không đồng ý chia khối tài sản này trong vụ án chia tài sản sau ly hôn. Ông, bà xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bà Cao Kim E, ông Cao Quốc T7 trình bày:

Ông, bà là cháu nội của ông Y và bà T15, là con của ông Cao Ngọc X1 (chết). Sau khi ông bà nội của bà chết thì lại các phần đất tại Phường T, thành phố C để lại, ông X1 chưa được chia thừa kế mà tạm giao quyền quản lý lại cho ông T. Do vậy, ông, bà không đồng ý chia khối tài sản này trong vụ án chia tài sản sau ly hôn. Ông, bà xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bà Trần Kim L5, anh Cao Minh H2, anh Cao Hoàng H3 (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Cao Xuân H5) trình bày:

Các phần đất tại phường T là do ông Y, bà T15 để lại cho các con, chưa chia thừa kế, tạm giao quyền quản lý lại cho ông T để thờ cúng tổ tiên. Xác định không phải tài sản chung của ông T và bà X, nên không đồng ý yêu cầu của bà X. Bà L5, anh H2, anh H3 xin vắng mặt tại phiên tòa.

Đối với bà Cao Kim M, ông Cao Quốc T5, bà Cao Thị H4, ông Cao Quốc T8, ông Cao Quốc M1, ông Cao Quốc N1, bà Cao Thị L1, bà Cao Thùy L2, bà Cao Thùy L3, ông Cao Quốc T6 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng các đương sự này vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 46, 59, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X, về việc yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Giao ông Cao Minh T được nhận, quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất tại các thửa 048 (theo bản vẽ là thửa 38, tờ bản đồ 09), 105 (theo bản vẽ là thửa số 6, tờ bản đồ sô 6), 114 (theo bản vẽ là thửa 57, tờ bản đồ số 05); tọa lạc tại phường T, thành phố C, tổng diện tích 17.139,3m², trong đó thửa 048 là 2.693,5m²; thửa 105 là 5.313m², thửa 114 là 9.132,8m².

(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 30/12/2022 do Công ty TNHH MTV T19 cung cấp).

Buộc ông T hoàn trả cho bà X giá trị tài sản là 165.375.800 đồng (một trăm tám mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn tám trăm đồng).

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị X có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Cao Minh T không tự nguyện thi hành xong các khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm thi hành tương ứng thời gian chậm thi hành.

Giao ông Cao Minh T được nhận, quản lý, sử dụng các phần đất thửa 27, tờ bản đồ 07 diện tích 9.984m² và 1.242,9m tại thửa 522, tờ bản đồ 04; tọa lạc xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Tổng cộng là 11.226.9m².

Giao bà Nguyễn Thị X được nhận, quản lý, sử dụng tại các phần đất tại thửa 65, tờ bản đồ 07, diện tích 1.270,6m² và diện tích 9.957,1m² tại thửa 522, tờ bản đồ 04, tọa lạc xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Tổng diện tích 11.227.7m².

Buộc bà X có nghĩa vụ giao trả bản chính hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa 048, 114, 105, 111, tờ bản đồ số 05, tọa lạc phường T, thành phố C cho ông T.

Các đương sự có quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/7/2024 bà Nguyễn Thị X kháng cáo với nội dung chia tài sản chung của vợ chồng đối với phần đất diện tích 18.399,7m² bà được hưởng 20% là không đúng; phần đất diện tích 22.455,4m² ở G, Bạc Liêu chia không đều về mặt tiền và mặt hậu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Về việc chấp hành pháp luật trong tố tụng dân sự: Từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự.

Nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông T và bà X chia đôi phần đất tại G- Bạc Liêu, không chấp nhận kháng cáo của bà X chia đôi phần đất tại Phường T, thành phố C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm bà Nguyễn Thị X vẫn giữ nguyên kháng cáo, ông Cao Minh T thống nhất chia đôi phần đất tại G- Bạc Liêu, phần chia đôi đất do cha mẹ để lại dùng để thờ cúng ông không thống nhất chia đối với bà Nguyễn Thị X.

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị X thấy rằng: Đối với phần đất diện tích 18.399,7m², tọa lạc tại phường T, thành phố C (theo đo đạc thực tế do ông T xác định là 17.139,3m², bà Nguyễn Thị X thì xác định là 18.554,3m²). Tổng giá trị 826.879.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị X yêu cầu chia đôi mỗi người nhận ½ diện tích đất theo đo đạc thực tế, đối với thửa 114, tờ bản đồ 05 diện tích đo đạc lớn hơn giấy chứng nhận (theo giấy chứng nhận 9.610m², đo đạc thực tế là 10.700,7m² do bà X xác định) nhưng bà yêu cầu chia theo diện tích trong giấy chứng nhận, không yêu cầu chia diện tích thực tế. Ông Cao Minh T không đồng ý yêu cầu chia phần đất tại phường T, thành phố C, vì cho rằng đây là tài sản do cha mẹ ông Cao Văn Y và bà Trương Thị T15 để lại chưa chia thừa kế, bà Nguyễn Thị X thì cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng, do được hưởng thừa kế trong thời kì hôn nhân. Hội đồng xét xử xét thấy, về nguồn gốc phần đất tọa lạc tại phường T ông T và bà X đều thừa nhận do cha mẹ ông T để lại, đến năm 2000 cụ T15 chết, năm 2003 cụ Y chết thì bà Nguyễn Thị X và ông Cao Minh T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ thể hiện ông Cao Minh T nhận phần đất này theo đơn xin thừa kế tài sản có anh chị em của ông Cao Minh T ký tên ông T thực hiện để được cấp quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông và dùng tài sản này để thờ cúng cha mẹ ông. Bà Nguyễn Thị X cũng thừa nhận nhà và đất của vợ chồng bà do cha mẹ ông T cho và hiện nay nhà này đang dùng để thờ cúng. Như vậy nguồn gốc đất do cha mẹ ông T để lại và đã được cấp quyền sử dụng cho vợ chồng ông T nên cần xem xét nguồn gốc công sức đóng góp, cấp sơ thẩm chia 20% giá trị đất cho bà X là thiệt thòi cho bà X vì đã có công tôn tạo, gìn giữ và thờ cúng cha mẹ chồng nên cần chấp nhận kháng cáo của bà X. Tuy nhiên bà X yêu cầu được nhận đất là không phù hợp vì bà X cũng thừa nhận đất này dùng để thờ cúng cha mẹ nên chỉ chấp nhận chia cho bà X giá trị là 30% tổng số tiền là 248.063.700 đồng.

Đối với kháng cáo chia đôi phần đất tại thị xã G, tỉnh Bạc Liêu: Tại phiên toà phúc thẩm ông Cao Minh T và bà Nguyễn Thị X thống nhất chia đôi nên ghi nhận sự tự nguyện chia cho ông Cao Minh T được nhận phần đất tổng diện tích 3.598,5m², phần đất thửa 38 + 39 tổng diện tích 7.901,9m² và thửa 65 diện tích 1.257,8m². Bà Nguyễn Thị X được nhận thửa 38 tổng diện tích 5.457,4m² và thửa đất số 27 tổng diện tích 6.255,2m².

Đối với giá trị phần đất này, quá trình giải quyết vụ án các đương sự thống nhất giá 11.000/m². Tuy nhiên tại phiên tòa ông T bà X xác định thống nhất tính theo giá nhà nước quy định hiện nay. Tại Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh B quy định về giá đất thì phần đất này thuộc vị trí 1, khu vực 2 có giá là 48.000 đồng/m². Giá trị tài sản 22.455,4m² x 48.000 đồng/m² = 1.077.859.000 đồng, mỗi người nhận 538.929.000 đồng.

[2] Như nhận định trên, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị X về yêu cầu chia đôi phần đất ở phường T không được chấp nhận, đề nghị công nhận chia đôi phần đất ở G - Bạc Liêu được chấp nhận.

[3] Chi phí tố tụng: Số tiền 35.442.000 đồng chi phí đo đạc do bà X thanh toán; bà X chịu 30% là 7.088.400 đồng, ông T chịu 70% là 28.353.600 đồng, bà X đã nộp tạm ứng, ông T phải hoàn trả cho bà X. Ông T nộp chi phí đo đạc 25.725.380 đồng, ông T phải chịu 1/2, buộc bà X có trách nhiệm giao lại 1/2 tiền chi phí số tiền là 12.862.690 đồng cho ông T. Đối trừ ông T còn phải thanh toán lại cho bà X là 15.490.910 đồng.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn phải nộp trên giá trị phần tài sản mình được nhận, cụ thể phần đất tại Phường T giá 826.879.000 đồng, ông T được nhận 70% giá trị là 578.815.300 đồng, ½ phần đất tại thị xã G giá trị là 538.929.000 đồng, tổng giá trị ông T được nhận 1.117.744.300 đồng. Bà X được nhận 30% giá trị là 248.063.700 đồng, ½ phần đất tại thị xã G giá trị là 538.929.000 đồng, tổng giá trị bà X được nhận 786.992.700 đồng.

Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị X được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị X không phải chịu án phí, đã dự nộp được nhận lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị X. Sửa bản án sơ thẩm hôn nhân và gia đình số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Căn cứ vào các Điều 46, 59, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X, về việc yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Giao ông Cao Minh T được nhận, quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất tại các thửa 048 (theo bản vẽ là thửa 38, tờ bản đồ 09), 105 (theo bản vẽ là thửa số 6, tờ bản đồ sô 6), 114 (theo bản vẽ là thửa 57, tờ bản đồ số 05); tọa lạc tại phường T, thành phố C, tổng diện tích 17.139,3m², trong đó thửa 048 là 2.693,5m²; thửa 105 là 5.313m², thửa 114 là 9.132,8m².

(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 30/12/2022 do Công ty TNHH MTV T19 cung cấp).

Buộc ông T hoàn trả cho bà X giá trị tài sản là 248.063.700 đồng (Hai trăm bốn mươi tám triệu không trăm sáu mươi ba ngàn bảy trăm đồng).

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị X có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Cao Minh T không tự nguyện thi hành xong các khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm thi hành tương ứng thời gian chậm thi hành.

Giao ông Cao Minh T được nhận, quản lý, sử dụng phần đất tọa lạc ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, cụ thể từ điểm M1, M2, M5, M20 đến M1, tổng diện tích 3.598,5m²; Một phần đất thửa 38+39, tổng diện tích 7.901,9m² tính từ điểm M17 đến các điểm M8, M9, M10, M16,M14 đến điểm M17 và thửa 65 diện tích 1.257m² tính từ điểm M15 đến M16, M11, M12 đến M15.

Giao bà Nguyễn Thị X được nhận, quản lý, sử dụng phần đất tọa lạc ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, tổng diện tích 6.255,2m² tính từ điểm M20 đến các điểm M5, M6, M18 đến M20; Một phần đất thửa 38 tổng diện tích 5.457.4m² tính từ điểm M18 đến các điểm M7, M8, M17 đến M18.

(Theo bản vẽ mặt bằng hiện trạng sử dụng đất ngày 02/11/2024 của Công ty TNHH Đ – Chi nhánh B2)

Buộc bà Nguyễn Thị X có nghĩa vụ giao trả bản chính hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa 048, 114, 105, 111, tờ bản đồ số 05, tọa lạc phường T, thành phố C cho ông T.

Các đương sự có quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định.

Chi phí đo đạc: Buộc ông Cao Minh T hoàn trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền 15.490.910 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị X phải nộp 35.479.708 đồng. Ngày 10/5/2022, bà Nguyễn Thị X đã nộp tiền tạm ứng án phí 8.700.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau theo biên lai số 0001311, được đối trừ, bà Nguyễn Thị X tiếp tục nộp 26.779.708 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ông Cao Minh T phải nộp 45.532.329 đồng. Ngày 28/7/2022, ông Cao Minh T đã nộp tạm ứng án phí 3.000.000 đồng theo biên lai số 0001802, đối trừ, ông Cao Minh T tiếp tục nộp 42.532.329 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị X không phải chịu, đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009000 ngày 09/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân TP Cà Mau;
  • - Chi cục THADS TP Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-PT ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án về chia tài sản chung; xác định tài sản chung, tài sản riêng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger