|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày: 29-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hoàng Vũ;
Ông Huỳnh Văn Thêm.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trịnh Văn N, sinh ngày 10/10/1998 tại huyện V, tỉnh Kiên Giang; Nơi thường trú và nơi cư trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn C và bà Phan Thị C1; Có vợ tên Phạm Thị Kiều A; Con có 02 người: lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo được tại ngoại; có mặt
Bị hại: Đào Hồng L, sinh ngày 01/01/1973; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trịnh Thị N1, sinh ngày 10/10/1993; Nơi cư trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; có mặt
Người làm chứng: Đặng Ngọc H, sinh ngày 01/01/1977; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 20/6/2024, Trịnh Văn N điều khiển xe mô tô BKS 65D1-313.42 đi đến Bến đò K thuộc ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, để qua đò đi về nhà ở ấp B, xã V, lúc này N nhìn thấy nhà của Đào Hồng L không có ai trông giữ, phát hiện có 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22 A225 của L để tên bàn máy may nên lén lút đi vào lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi ra xe đi qua đò về nhà. Sau đó bà L phát hiện mất trộm điện thoại nên tiến hành trích xuất camera rồi trình báo Công an xã V xử lý. Trong quá trình điều tra N đã thừa nhận toàn bộ hành vi nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22 A225 màu đen, màn hình cảm ứng, số máy: 358475775859434;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Vario, màu xanh đen, biển kiểm soát 65D1-313.42, cũ đã qua sử dụng.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản:
Số 14/KL-HĐĐGTS ngày 01/07/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện V kết luận tại thời điểm tháng 6/2022: 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A22 A225 màu đen, màn hình cảm ứng, mua mới và đưa vào sử dụng vào ngày 16/01/2022, có giá trị tài sản là 2.162.500 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSVT ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận đã truy tố bị cáo Trịnh Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Văn N từ 03 đến 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Viện Kiểm sát không đề nghị.
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22 A225 màu đen, màn hình cảm ứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho bị hại Đào Hồng L sinh ngày 01/01/1973 ngụ ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang
Đối với vật chứng xe mô tô hiệu Vario màu đen, biển kiểm soát 65D1-313.42, cũ đã qua sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Kiên Giang đã quyết định trả lại cho chủ sở hữu là Trịnh Thị N1, sinh ngày 10/10/1993 ngụ ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (xe N1 cho N mượn sử dụng, việc N sử dụng đi trộm cắp tài sản N1 không biết).
- Bị hại Đào Hồng L vắng mặt tại phiên toà không có lời trình bày. Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
-
Về thủ tục tố tụng:
Đối với việc vắng mặt của bị hại Đào Hồng L và người làm chứng Đặng Ngọc H, đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt Đào Hồng L, Đặng Ngọc H.
-
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trịnh Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút trộm cắp tài sản; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; tài sản bị cáo trộm cắp có tổng giá trị là 2.162.500 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
-
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân nên cần tuyên cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
-
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành thật khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xem xét có phần giảm nhẹ cho bị cáo.
-
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.
-
Qua phân tích, xét thấy cần xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung để cơ quan có thẩm quyền giáo dục cho bị cáo thành người tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
-
Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng 01 (một) điện thoại hiệu S A25 A225, màu đen, màn hình cảm ứng, số máy: 358475775859434. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại cho bị hại Đào Ngọc L1. Việc trao trả này là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với vật chứng xe mô tô hiệu Vario màu đen, biển kiểm soát 65D1-313.42, cũ đã qua sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Kiên Giang đã quyết định trả lại cho chủ sở hữu là Trịnh Thị N1, sinh ngày 10/10/1993 ngụ ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (xe N1 cho bị cáo N mượn sử dụng, việc bị cáo N sử dụng đi trộm cắp tài sản N1 không biết).
-
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và các Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Văn N 03 tháng tù, tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
-
Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo Trịnh Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kiều Diễm |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn N
