Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-PT

Ngày 25 - 10 - 2024

V/v Tranh chấp chia tài sản chung,

nợ chung sau khi ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy;

Các Thẩm phán: Ông Dương Tuấn Vinh;

Ông Trần Văn Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 03/2024/TLPT-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 88/2023/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2840/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: K, ấp H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên hệ: 606/145/2 Đường C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Bà Nguyễn Ngọc Xuân N, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: D T, phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Nguyễn Thị Lệ T1, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số A L, tổ E, phường B, thành phố B, Lâm Đồng.

- Bị đơn: Ông Bang Hyon G2, sinh năm 1965.

Địa chỉ: A D H. PrunSup apt, 250 H – dong, P – gu, S – si, G – do, S1 – Korea 442150.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Ban G4: Ông Phan Văn N1, sinh năm 1977.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Thành T2 – Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

Cùng địa chỉ: Lầu A, A N, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người phiên dịch: Ông Phạm Công T3 – Phiên dịch viên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Bang Yong G1, sinh năm 1960.

    Địa chỉ: A D H, 30 Hwayang – ro, 50 Beon - gil, P – gu, S – si, G – do, S1 – Korea 442150.

  2. Bà Bang Ji A, sinh năm 1972.

    Địa chỉ: A D H, 30 Hwayang – ro, 50 Beon - gil, P – gu, S – si, G – do, S1 – Korea 442150.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Bang Yong G1 và bà Bang Ji A: Ông Trần Văn D, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Lầu A, A N, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ông Kim Hyung N2, sinh năm 1944.

    Địa chỉ: K, S-si, P-gu, Dongmal Lo 37 bengil 37 – 1 (203 - ho), K.

  2. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1947.

    Địa chỉ: Tổ E, Ấp H, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  3. Ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1979.

    Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  4. Ông Nguyễn Quang T5, sinh năm 1977.

    Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  5. Ông Lê Quốc T6, sinh năm 1970 và bà Phan Thị Mỹ H, sinh năm 1979.

    Cùng địa chỉ: P, Tòa nhà T, A Đ, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc C, sinh năm 1980.

Địa chỉ: P, Tòa nhà T, A Đ, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 31/7/2019).

(Đương sự có mặt: bà T, bà N, bà T1, ông Bang H, ông N1, Luật sư T2, ông T3, ông D, ông C. Các đương sự khác vắng mặt)

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T; bị đơn ông Bang Hyon G2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bang Yong G1, ông Lê Quốc T6, bà Phan Mỹ H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 20/2014/HNGĐ-ST ngày 15/05/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và bản

án phúc thẩm số 04/2016/HNGĐ-PT ngày 10/8/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên cho bà Nguyễn Thị Thủy T được ly hôn với ông Bang Hyon G2. Riêng về phần tài sản chung, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy để xem xét xét xử lại.

Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn, ông Bang Hyon G2 yêu cầu chia tài sản gồm:

  • Thửa số 61, tờ bản đồ số 02 có diện tích là 2.430m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) AC 679043 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 62, tờ bản đồ số 02 có diện tích 988m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679039 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 02 có diện tích 675m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679042 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 74, tờ bản đồ số 02 có diện tích 21,781m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679041 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 02 có diện tích 1666m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679040 cấp ngày 01/07/2005. Các thửa đất trên đều tọa lạc xã S, huyện T tỉnh Đồng Nai có tổng diện tích của các thửa trên là 27.540m².
  • Thửa 18, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T (theo GCNQSDĐ số AÐ 790661 do ủy ban nhân dân (UBND) huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 20.000m²);
  • Thửa 18a, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T (theo GCNQSDĐ số AÐ 790663 do ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 4.034,2m²).
  • Thửa 15, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T (theo GCNQSDĐ số AÐ 790664 do ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 5.559,2m²) tổng diện tích của 03 thửa đất trên là 29.593,4m².
  • Thửa đất số 36 tờ bản đồ số 01, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận có diện tích 15.496m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA472949;
  • Thửa đất có diện tích 127.500m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X353787;
  • Thửa đất số 76, tờ bản đồ số 25, diện tích 5.593m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB697660.

Đối với các thửa đất gồm quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đã được UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số Y 387902, Y387904, Y 387905 ngày 19/12/2003; số Y 387832, Y 387841, Y 387861 ngày 18/3/2004 và đã được chỉnh lý trang 4 ngày 01/9/2006 đứng tên bà Nguyễn Thị Thủy T. Quá trình tiến hành tố tụng, phía bị đơn ông Bang H có đơn yêu cầu phản tố chia tài sản chung với phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T. Ngày 03/4/2019, ông Bang Hyon G2 có đơn rút yêu cầu phản tố về chia tài sản chung với phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T đối với quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đã được UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số Y 387902, Y387904, Y 387905 ngày 19/12/2003; số Y 387832, Y 387841, Y 387861 ngày 18/3/2004 và đã được chỉnh lý trang 4 ngày 01/9/2006 đứng tên bà Nguyễn Thị Thủy T, việc ông Bang Hyon G2 xác định

việc rút một phần phản tố đối với quyền sử dụng phần đất trên là tự nguyện và hiểu rõ kết quả pháp lý.

Ngày 20/4/2021, bà có Bản tường trình đồng ý việc phía bị đơn ông Bang Hyon G2 rút một phần yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng đối với 06 phần đất đã được UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số Y 387902, Y387904, Y 387905 ngày 19/12/2003; số Y 387832, Y 387841, Y 387861 ngày 18/3/2004 và đã được chỉnh lý trang 4 ngày 01/9/2006 đứng tên bà Nguyễn Thị Thủy T.

Nay bà xác định các tài sản chung của bà và ông Bang Hyon G2 gồm có:

  • Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 15.680,9m², xã S, H, Bình Thuận.
  • Thửa đất số 76, tờ bản đồ số 25, diện tích 6.096,6m², xã S, H, Bình Thuận.
  • Thửa đất số 1, tờ bản đồ độc lập, diện tích 127.500m², xã S, H, Bình Thuận. Ba thửa đất này là tài sản chung chung của vợ chồng nên bà đồng ý yêu cầu của ông Bang H2 Gil chia theo quy định của pháp luật.

Đối với các tài sản gồm:

  • Thửa đất số 18, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T, Bình Thuận
  • Thửa đất số 18a, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T, Bình Thuận
  • Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T, Bình Thuận các tài sản này cả bà và ông Bang Hyon G2 cho riêng con chung nên bà không đồng ý chia.

Riêng các 05 quyền sử dụng đất tại các thửa 61, 62, 63, 74, 75, tờ bản đồ số 2 tọa lạc xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Tổng diện tích của các thửa trên là 27.540m² là tài sản riêng của bà không phải tài sản chung của bà và ông Bang Hyon G2, bà không yêu cầu chia.

- Về nợ chung của hai vợ chồng:

  • Đối với nợ của ông Bang Yong G1, vào khoảng năm 2005, ông Bang Hyon G2 có vay của ông Bang Y Gil số tiền 96.000USD thì bà Tiên đồng Ý với chồng. Bà T và ông Bang Hyon G2 liên đới mỗi người trả một nửa tiền gốc 96.000USD cho ông Bang Yong G1. Bà T không đồng ý trả lãi và 1/3 lợi nhuận các mảnh đất theo yêu cầu của ông Bang Yong G1.
  • Đối với số tiền trả cho bà Bang J, bà T cam kết sẽ trả 1/3 giá trị tài sản cho bà Bang J, không đồng ý với yêu cầu trả nợ của bà Bang Ji A.

Bị đơn ông Bang Hyon G2 trình bày: Về quan hệ hôn nhân và con chung đã được tòa án giải quyết xong nên ông không có ý kiến gì.

Về tài sản chung, trong quá trình ông và bà T chung sống có các tài sản chung gồm:

  • Thửa số 61, tờ bản đồ số 02 có diện tích là 2.430m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679043 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 62, tờ bản đồ số 02 có diện tích 988m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679039 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 02 có diện tích 675m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679042 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 74, tờ bản đồ số 02 có diện tích 21,781m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679041 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 02 có diện tích 1666m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679040 cấp ngày 01/07/2005. Các thửa đất trên đều tọa lạc xã S, huyện T tỉnh Đồng Nai có tổng diện tích của các thửa trên là 27.540m².
  • Thửa 18, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T (theo GCNQSDĐ số AÐ 790661 do ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 20.000m²);
  • Thửa 18a, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T (theo GCNQSDĐ số AÐ 790663 do ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 4.034,2m²).
  • Thửa 15, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T (theo GCNQSDĐ số AÐ 790664 do ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 5.559,2m²) tổng diện tích của 03 thửa đất trên là 29.593,4m².
  • Thửa đất số 36 tờ bản đồ số 01, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận có diện tích 15.496m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA472949;
  • Thửa đất có diện tích 127.500m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X353787;
  • Thửa đất số 76, tờ bản đồ số 25, diện tích 5.593m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB697660).

Về nguồn gốc hình thành tài sản do ông tạo lập để đưa bà T mua, do ông không có quốc tịch Việt Nam tin tưởng bà T là vợ nên ông để bà T đứng tên. Nay ông yêu cầu tòa án chia tài sản chung gồm các thửa đất nói trên theo tỷ lệ thu nhập, tiền đóng góp để mua đất.

Riêng đối với các thửa đất gồm quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đã được UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số Y 387902, Y387904, Y 387905 ngày 19/12/2003; số Y 387832, Y 387841, Y 387861 ngày 18/3/2004 và đã được chỉnh lý trang 4 ngày 01/9/2006 đứng tên bà Nguyễn Thị Thủy T. Quá trình tiến hành tố tụng, ông có yêu cầu chia tài sản chung với phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T. Ngày 03/4/2019, ông có đơn rút yêu cầu phản tố về chia tài sản chung với phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T đối với quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đã được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số Y 387902, Y387904, Y 387905 ngày 19/12/2003; số Y 387832, Y 387841, Y 387861 ngày 18/3/2004 và đã được chỉnh lý trang 4 ngày 01/9/2006 đứng tên bà Nguyễn Thị Thủy T, việc ông xác định việc rút một phần phản tố đối với quyền sử dụng phần đất trên là tự nguyện và hiểu rõ kết quả pháp lý.

Đối với phần nợ chung: Ông xác định trong quá trình chung sống ông và bà T có vay của ông Bang Yong G1 số tiền là 119,977USD và bà Bang J Ae số tiền 9,999,15USD, chuyển khoản ngày 05/4/2006, ông yêu cầu Tòa án giải quyết

phần nợ chung theo quy định của pháp luật, trừ phần nợ vào tài sản chung của cả hai.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bang Yong G1, đại diện theo ủy quyền ông Trần Viết C1 trình bày:

Số tiền Bang Yong G1 cho Thủy T và Bang Hyon G2 vay (làm tròn) 120.000USD như bảng kê được đính kèm bản tự khai ngày 17/11/2022.

Tiền được chuyển đến tài khoản của Thủy T và Bang Hyon G2 mở tại ngân hàng. Hai người đã rút thành VND để sử dụng. Chúng tôi đã tính tỷ giá quy đổi USD và VND tại mỗi thời điểm T và Bang Hyon G2 rút tiền sử dụng như bảng kê được đính kèm. Nay ông Bang Yong G1 đề nghị Tòa án giải quyết:

  • Yêu cầu bà Nguyễn Thị Thủy T và ông Bang H2 Gil trả số tiền vay gốc và lãi suất là 9.321.302.822₫ dựa trên các chứng cứ và bản tự khai đã cung cấp.
  • Trả 1/3 lợi nhuận của giá trị đất là 24.808.000.000đ. Sự thật là toàn bộ giá trị đất hiện nay ở T và H mà Thủy T và Bang Hyon G2 có nguồn gốc là từ số tiền vay của Ban G4 và hai người đã cam kết trả nợ gốc cùng với 1/3 lợi nhuận. Từ khi cho vay tiền đến nay ông B Yong Gil đang giữ bản gốc các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Thủy T và Bang Hyon G2.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bang Ji A, đại diện theo ủy quyền ông Trần Viết C1 trình bày:

Số tiền bà Bang J Ae chuyển cho Thủy T và Bang Hyon G vay là 9,999,15USD, chuyển khoản ngày 05/4/2006, tới tài khoản người nhận là Bang H Gil lúc đó đang ở Việt Nam. Ông Bang Hyon G2 đã rút tiền VND ngày 26/5/2006 để sử dụng mua bán đất ở Bình Thuận, Việt Nam.

Nay bà Bang Ji A yêu cầu Ban G4 và T trả nợ gốc là 9.968,15USD quy ra tiền Việt Nam đồng tại thời điểm, tạm tính ngày 26/10/2022, là 239.976.000đ; Trả lãi suất tính từ ngày vay 05/4/2006 đến thời điểm xét xử sơ thẩm với mức lãi suất bằng 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng N3, tạm tính trước đến ngày 26/10/2022 là 534.546.540đ. Tổng cộng số tiền phải trả là 774.522.540đ.

Bà Nguyễn Thị Thủy T và ông Bang Hyon G2 tự nguyện thỏa thuận và cũng đã cam kết với bà Bang Ji A khi vay tiền là chia 1/3 giá trị chênh lệch phần đất mua được bằng tiền vay của Bang J, đó là các phần đất: thửa 18, tờ bản đồ số 6, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; thửa 18a, tờ bản đồ số 6, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; thửa 15, tờ bản đồ số 6, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Qua thẩm định giá, 03 thửa đất này có giá trị 16.276.370.000đ, tiền bỏ ra khi mua đất là 159.217.042đ, chênh lệch là 16.117.152.958đ. Bà Bang J yêu cầu nhận 1/3 số tiền này, bằng 5.372.384.319đ. Bà Thủy T và ông Bang Hyon G2 có trách nhiệm thanh toán cho bà Bang Ji A.

Ông Lê Quốc T6 đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Quốc C trình bày: Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Quốc C tại phiên tòa đề nghị tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 04 diện tích đất theo hợp đồng cam kết chuyển nhượng đất ngày 18/3/2019 và buộc bà T phải giao đất cho ông T6.

Ông Trần Quốc H1 trình bày: Ông là người quản lý sử dụng và chăm sóc diện tích đất tại 05 thửa đất tại xã S, T trồng chuối. Việc ông Bang Hyon G2 và

bà T tranh chấp diện tích đất trên ông không có ý kiến gì, số ông đang đầu tư trồng chuối trên đất, nếu diện tích đất giao cho bà T, hay ông Bang H2 Gil ông có nguyện vọng tiếp tục thuê để trồng chuối hết hạn hợp đồng cuối năm 2022. Ông xin được vắng mặt khi hòa giải và xét xử.

Ông Nguyễn Thành T2 trình bày: Ông là người được bà T nhờ trông coi các diện tích đất hiện ông Bang Hyon G2 đang tranh chấp với bà T. Trên đất ông có trồng một số mì, khi Tòa giải quyết giao đất cho ai thì ông sẽ tự thu hoạch mì trả đất cho người đó. Do ở xa nên ông xin được vắng mặt trong các buổi hòa giải và xét xử.

Ông Nguyễn Quang T5 trình bày: Từ năm 2008 đến tháng 3/2013 ông có thuê diện tích đất của bà T ở Sông P, H, Bình Thuận để trồng mì với tổng số tiền ông trả cho bà T là 89.000.000 đồng, kể từ đó cho đến nay ông không còn thuê nữa.

Ông Nguyễn Văn T4 trình bày: Đối với 05 diện tích đất ở T ông là người quản lý chăm sóc từ năm 2008, chủ yếu là cà phê và tiêu, khi ông đến quản lý chăm sóc, cũng như chi phí trồng mới và thu hoạch cà phê, tiêu ông không nhớ. Ông xin được vắng mặt trong quá trình xét xử và hòa giảido ông lớn tuổi không đi lại được.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 83/2023/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:

Căn cứ các Điều 28, 29, 33, 59, 62 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014; Điều 95, 166, 169, 202, 203 Luật đất đai 2013. Điều 164, khoản 2 Điều 305, Điều 471, 473, 474, 601,688, Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 22, khoản 1 Điều 27 Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 11 tháng 7 năm 2013 của Văn phòng Q; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí;

Tuyên xử:

Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thủy T. Chấp nhận 1 phần yêu cầu phản tố của ông Bang Hyon G2 về việc “Chia tài sản chung".

1. Xác định tài sản chung của ông Bang Hyon G2 và bà Nguyễn Thị Thủy T gồm:

  • Thửa số 61, tờ bản đồ số 02 có diện tích là 2.430m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679043 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 62, tờ bản đồ số 02 có diện tích 988m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679039 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 02 có diện tích 675m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679042 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 74, tờ bản đồ số 02 có diện tích 21,781m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679041 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 02 có diện tích 1.666m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679040 cấp ngày 01/07/2005. Các thửa đất trên đều tọa lạc xã S, huyện T tỉnh Đồng Nai.
  • Thửa 18, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 790661 do ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 20.000m²);
  • Thửa 18a, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 790663 do ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 4.034,2m²).
  • Thửa 15, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 790664 do ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 5.559,2m²).
  • Thửa đất số 36 tờ bản đồ số 01, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận có diện tích 15.496m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA472949;
  • Thửa đất có diện tích 127.500m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X353787;
  • Thửa đất số 76, tờ bản đồ số 25, diện tích 5.593m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB697660.

(Tổng giá trị tài sản kể cả 210.000.000đ đồng tiền hoa màu và tiền thuê đất tại H 89.000.000₫ là 90.888.119.375đ (chín mươi tỷ, tăm trăm tám mươi tám triệu, một trăm mười chín nghìn, ba trăm bảy năm đồng), đã trừ đi 110.880.625 đồng tiền được bồi thường do thu hồi đất

2. Chia cho ông Bang H2 Gil được hưởng ½ tổng giá trị của các tài sản 45.444.059.687₫ (bốn mươi năm tỷ, bốn trăm bốn mươi bốn triệu, không trăm năm chín nghìn, sáu trăm tám bảy đồng).

3. Chia cho bà Nguyễn Thị Thủy T được hưởng ½ tổng giá trị của các tài sản là 45.444.059.687đ (bốn mươi năm tỷ, bốn trăm bốn mươi bốn triệu, không trăm năm chín nghìn, sáu trăm tám bảy đồng).

4. Giao cho bà Nguyễn Thị Thủy T được quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản trên đất tại các thửa gồm:

  • Thửa số 61, tờ bản đồ số 02 có diện tích là 2.430m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679043 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 62, tờ bản đồ số 02 có diện tích 988m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679039 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 02 có diện tích 675m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679042 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 74, tờ bản đồ số 02 có diện tích 21,781m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679041 cấp ngày 01/07/2005;
  • Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 02 có diện tích 1666m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 679040 cấp ngày 01/07/2005. Các thửa đất trên đều tọa lạc xã S, huyện T tỉnh Đồng Nai.
  • Thửa 18, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 790661 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 20.000m²;
  • Thửa 18a, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 790663 do ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 4.034,2m²;
  • Thửa 15, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 790664 do ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 08/5/2006 với diện tích 5.559,2m²;
  • Thửa đất số 36 tờ bản đồ số 01, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận có diện tích 15.496m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA472949;
  • Thửa đất số 1, tờ bản đồ độc lập có diện tích 127.500m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X353787;
  • Thửa đất số 76, tờ bản đồ số 25, diện tích 5.593m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB697660.

Buộc ông Bang Hyon G2 giao trả cho bà Nguyễn Thị Thủy T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Trường hợp ông Bang Hyon G2 không giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, bà Nguyễn Thị Thủy T được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp và cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trình tự, thủ tục được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai và Luật Thi hành án dân sự.

5. Bà Nguyễn Thị Thủy T phải có trách nhiệm toán ½ giá trị tài sản chung cho ông Bang H là 16.912.173.979 đồng.

Chia cho ông Bang H2 Gil 55.440.312 đồng (năm mươi năm triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn, ba trăm mười hai đồng) tiền bồi thường do bị thu hồi đất.

Chia cho bà Nguyễn Thị Thủy T 55.440.312 đồng (năm mươi năm triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn, ba trăm mười hai đồng) tiền bồi thường do bị thu hồi đất.

Ông Bang Hyon G2 và bà Nguyễn Thị Thủy T được quyền liên hệ với Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện T để nhận số tiền 110.880.625 đồng tiền được bồi thường do thu hồi đất theo thông báo số 124 ngày 21/02/2023 của Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện T.

6. Đình chỉ một phần yêu cầu chia tài sản chung của ông B Hyon Gil đối với quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đã được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 387902, Y387904, Y

387905 ngày 19/12/2003; số Y 387832, Y 387841, Y 387861 ngày 18/3/2004 và đã được chỉnh lý trang 4 ngày 01/9/2006 đứng tên bà Nguyễn Thị Thủy T.

7. Về nợ chung:

7.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Bang Yong G1.

Buộc ông Bang Hyon G2 và bà Nguyễn Thị Thủy T phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông B Yong Gil 119.977USD quy đổi ra tiền Việt Nam tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 2.860.251.680 đồng (hai tỷ, tám trăm sáu mươi triệu, hai trăm năm mươi mốt nghìn, sáu trăm tám mươi đồng). Trong đó:

  • Bà Nguyễn Thị Thủy T có trách nhiệm trả cho ông Bang Y Gil số ngoại tệ 48.000USD quy đổi ra tiền Việt Nam tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 1.144.320.000 đồng (một tỷ, một trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm hai mươi nghìn đồng).
  • Ông Bang Hyon G2 phải có trách nhiệm trả cho ông Bang Y Gil số ngoại tệ là 71,977USD quy đổi ra tiền Việt Nam tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 1.715.931.680 đồng (một tỷ, bảy trăm mười năm triệu, chín trăm ba một nghìn, sáu trăm tám mươi đồng).

7.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Bang Yong G1 đối với số tiền 26.086.130.320 đồng (hai mươi sáu tỷ, không trăm tám mươi sáu triệu, một trăm ba mươi nghìn, ba trăm hai mươi đồng).

7.3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Bang Ji A.

  • Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thủy T và ông Bang Hyon G2 có trách nhiệm trả cho bà Bang J Ae số tiền 5.425.457.000 đồng (năm tỷ, bốn trăm hai năm triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

Ông Bang Hyon G2 có trách nhiệm thanh toán cho bà Bang J Ae số tiền 2.712.728.500 đồng (hai tỷ, bảy trăm mười hai triệu, bảy trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm đồng).

Bà Nguyễn Thị Thủy T phải thanh toán cho bà Bang J Ae số tiền 2.712.728.500 đồng (hai tỷ, bảy trăm mười hai triệu, bảy trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm đông).

8. Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 10/2022/QĐ-BPKCTT ngày 15/6/2022 và Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 09/2022/QĐ-BPBĐ ngày 13/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai cho đến khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, hoặc đến khi bản án có hiệu lực thi hành.

9. Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khác:

Về chi phí tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ bà Nguyễn Thị Thủy T nộp chi phí tố tụng là 22.420.000đ; Ông Bang H2 Gil nộp chi phí tố tụng 265.000.000₫ tổng cộng là 287.420.000đ. Mỗi người phải chịu ½ số tiền trên là 143.710.000đ. Bà T đã đóng số tiền 22.420.000đ. Số tiền còn lại bà T phải thanh toán lại cho ông B Hyon Gil là 121.290.000đ (một trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm chín mươi nghìn đồng), ông Bang Hyon G2 đã đóng xong.

Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Ông Bang Hyon G2 phải chịu 274.700.135 đồng. Được trừ vào số tiền 45.883.000 đồng và 56.000.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm ông Bang H2 Gil nộp tại biên lai số 04672 và số 04764 ngày 26/7/2012 và ngày 04/03/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Ông Bang Hyon G2 còn phải nộp tiếp số tiền 172.867.135 đồng.

+ Bà Nguyễn Thị Thủy T phải chịu 257.551.784 đồng.

+ Bà Bang Ji A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Hoàn trả cho bà Bang J Ae số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.487.410 đồng (tám triệu bốn trăm tám bảy nghìn, bốn trăm mười đồng) tại biên lai số 04673 ngày 26/7/2012 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

+ Ông Bang Yong G1 phải chịu 134.086.130 đồng. Được trừ vào số tiền 54.883.047 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm ông Bang Y Gil nộp tại biên lai số 04671 ngày 26/7/2012 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Ông Bang Yong G1 còn phải nộp tiếp số tiền là 79.203.083 đồng.

10. Về án phí phúc thẩm:

Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thủy T 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000974 ngày 16/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

Ông Bang Hyon G2 phải chịu 300.000 đồng; được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000970 ngày 16/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai vào phần án phí phải chịu.

Ông Bang Yong G1 phải chịu 300.000 đồng; được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000971 ngày 16/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai vào phần án phí phải chịu.

Ông Lê Quốc T6, bà Phan Thị Mỹ H mỗi người phải chịu 300.000 đồng; được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000975, 0000977 ngày 16/8/2023 và ngày 17/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai vào phần án phí phải chịu.

11. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

12. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Đương sự (10);
  • - Lưu: HSVA(2), VP(3) 20B LTTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-PT ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn.

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Thủy T kiện Ông Bang Hyon G2 về Tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger