Hệ thống pháp luật

Bản án số: 33/2024/DS-ST

Ngày 27 tháng 9 năm 2024

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Ngọc Tân;
  2. Bà Nguyễn Thị Hường.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXX-DS ngày 05/9/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-DS ngày 17/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1968

Nơi cư trú: Tổ C, khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị đơn: Anh Trần Khắc Đ, sinh năm 1983

Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê xuân T, sinh năm 1962

Nơi cư trú: Khu phố C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

(Bà M, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Đ vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:

Bà M có quen biết anh Trần Khắc Đ. Bà M làm ăn buôn bán thực phẩm tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh còn anh Đ làm nghề xây dựng, xây tại Công trình Việt nhật tại nhà anh L. Quá trình thi công công trình anh Đ thường xuyên mua thực phẩm của bà. Từ tháng 02/2012 đến tháng 12/2012 anh Đ mua thực phẩm của bà (cụ thể mua thịt, rau, nhờ tôi mua thực phẩm cho) với tổng số tiền là 153.000.000 đồng, nhưng anh Đ chưa trả bà khoản tiền nào, anh Đ có viết giấy cam kết ngày 25/12/2012 tại công trình nhà anh L có ông Lê Xuân T là người quản lý công trình đứng ra làm chứng. Nay bà M yêu cầu anh Đ trả bà số tiền 153.000.000 đồng, bà không yêu cầu anh Đ phải trả lãi bà.

Tại Biên bản lấy lời khai của anh Trần Khắc Đ dưới sự chứng kiến của chính quyền địa phường và gia đình anh Đ thì anh Đ cung cấp như sau: Anh Đ có quan hệ quen biết với bà Đỗ Thị M, anh Đ làm nghề xây dựng. Vào năm 2012 khi thi công công trình xây dựng tại nhà ông L ở thành phố M, tỉnh Quảng Ninh thì anh Đ có mua thức phẩm của bà M để cho công nhân ăn. Từ tháng 02/2012 đến tháng 12/2012 anh Đ mua thực phẩm của bà M (cụ thể mua thịt, rau, ....) và còn nợ số tiền là 153.000.000 đồng. Anh Đ có viết giấy cam kết ngày 25/12/2012 có sự chứng kiến của ông Lê Xuân T xác nhận về số nợ trên. Do kinh tế khó khăn nên từ năm 2012 đến nay anh Đ chưa trả bà M được khoản tiền nào. Nay bà M yêu cầu anh Đ phải trả số tiền còn thiếu 153.000.000 đồng thì anh Đ có quan điểm: Anh Đ nhận số nợ trên và xin trả dần.

Tại Bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt thì ông Lê Xuân T trình bày như sau: Ông không có quan hệ gì với bà M, anh Đ. Anh Đ làm tổ trưởng tổ xây dựng làm thuê công trình cho ông vào năm 2012 tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Ngày 25/12/2012 ông có làm chứng việc anh Đ viết giấy cam kết tại công trình nhà ông L. Việc thanh toán giữa anh Đ và bà M như thế nào ông không biết.

Tại B bán xác minh với gia đình anh Trần Khắc Đ thể hiện: Anh Trần Khắc Đ làm nghề xây dựng tại Quảng Ninh, anh Đ thường xuyên về và liên lạc với gia đình. Gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng của tòa án gửi cho anh Đ và đã thông báo cho anh Đ biết, anh Đ có quan điểm như sau: Anh Đ xác nhận có nợ bà Đỗ Thị M tại thành phố M, tỉnh Quảng ninh số nợ cụ thể như thế nào anh Đ sẽ nói chuyện với bà M.

Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn L, xã Q thể hiện: Anh Trần Khắc Đ có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã Q, anh Đ làm nghề xây dựng tại Quảng Ninh, hiện tại anh Đ không có mặt tại địa phương. Đối với khoản nợ của anh Đ thì cơ sở thôn không nắm được. Nay bà M yêu cầu anh Đ phải trả số tiền nợ còn thiếu thì cơ sở thôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468, khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc anh Trần Khắc Đ có nghĩa vụ trả nợ cho bà Đỗ Thị M số tiền là 153.000.000 đồng. Đồng thời buộc anh Trần Khắc Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Trả lại bà M tiền tạm ứng án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Việc bà Đỗ Thị M khởi kiện anh Trần Khắc Đ trả số tiền còn nợ nên đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn đang cư trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Trần Khắc Đ đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Khắc Đ theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà M, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bà M, ông T.

[2] Xét về nội dung vụ án:

[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M: Căn cứ vào đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu đã xuất trình của bà Đỗ Thị M, biên bản lấy lời khai của anh Trần Khắc Đ cùng với các tài liệu chứng cứ là bản cam kết ngày 25/12/2012 dương lịch (bản gốc) do bà M nộp có đủ cơ sở xác định: anh Trần Khắc Đ còn nợ bà Đỗ Thị M số tiền 153.000.000 đồng.

[2.2] Về yêu cầu trả nợ của bà Đỗ Thị M: Bà Đỗ Thị M yêu cầu anh Trần Khắc Đ có nghĩa vụ trả 1 lần số tiền 153.000.000 đồng. Anh Trần Khắc Đ đồng ý trả nhưng anh Đ xin trả dần. Việc yêu cầu trả dần của anh Đ không được bà M chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử buộc anh Trần Khắc Đ có nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị M số tiền là 153.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại các điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015. Bà M không yêu cầu anh Đ phải trả tiền lãi cho bà.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M được Tòa án chấp nhận nên anh Trần Khắc Đ phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn lại bà M số tiền tạm ứng án phí mà bà M đã nộp. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468, khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M.

2. Buộc anh Trần Khắc Đ phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Đỗ Thị M số tiền là 153.000.000 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử 27/9/2024 cho đến khi thi hành bản án xong tất cả các khoản tiền, anh Trần Khắc Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: anh Trần Khắc Đ phải chịu 7.650.000 đồng (Bẩy triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Hoàn trả 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí cho bà Đỗ Thị M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004762 ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Đỗ Thị M, anh Trần Khắc Đ, ông Lê Xuân T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 33/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà M và anh Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger