|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 16/9/2024. |
|
“V/v Ly hôn giữa anh Khánh và chị Linh”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Quế.
- Ông Trần Xuân Tư.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Ngày 16/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) thụ lý số: 124/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/6/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Thôn A, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hoài L, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Thôn A, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Anh K và chị L đều vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ nguyên đơn anh Nguyễn Duy K trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai vào ngày 28/9/2010.
Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình nhau, khác nhau về quan điểm sống, hay xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống hôn nhân căng thẳng, không có hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân nhau được 04 năm. Do mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không thể chung sống với nhau được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh và chị L được ly hôn với nhau.
2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thảo V, sinh ngày 12/5/2010 và Nguyễn Chí B, sinh ngày 04/6/2013. Anh K có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B và giao cháu V cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên, có khả năng lao động. Hai bên không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 09/8/2024, bị đơn chị Nguyễn Thị Hoài L trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Thời gian anh chị tìm hiểu và kết hôn giống như anh K trình bày, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống giữa anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình nhau, khác nhau về quan điểm sống, hay xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống hôn nhân căng thẳng, không có hạnh phúc. Đến nay anh chị không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa, đã sống ly thân nhau được 04 năm. Do đó, chị đồng ý ly hôn với anh K vì mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không thể hàn gắn được.
2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thảo V, sinh ngày 12/5/2010 và Nguyễn Chí B, sinh ngày 04/6/2013. Từ khi ly thân đến nay cháu V sống với chị, cháu B sống với anh K nên chị đồng ý với đề nghị của anh K là giao cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V và giao cho anh K được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B cho đến khi các con thành niên, có khả năng lao động. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Giấy chứng nhận kết hôn mang tên Nguyễn Duy K và Nguyễn Thị Hoài L (bản chính); 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Duy K (bản pho to); 02 Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị Thảo V và Nguyễn Chí B (bản sao);
Các tài liệu, chứng cứ được bị đơn giao nộp: 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Hoài L (bản pho to).
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Anh K và chị L tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai vào ngày 28/9/2010; anh K và chị L có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thảo V, sinh ngày 12/5/2010 và Nguyễn Chí B, sinh ngày 04/6/2013. Điều này được thể hiện qua chứng cứ do anh K giao nộp là Giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/9/2010 mang tên Nguyễn Duy K và Nguyễn Thị Hoài L (bản chính) và 02 Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị Thảo V và Nguyễn Chí B (bản sao).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Duy K có đơn khởi kiện đề nghị TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa anh và chị Nguyễn Thị Hoài L có địa chỉ tại thôn A, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh K và bị đơn chị L đều vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị L tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai vào ngày 28/9/2010 nên quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị L là hợp pháp nên được pháp luật công nhận.
Anh K trình bày quá trình chung sống vợ chồng anh đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình nhau, khác nhau về quan điểm sống, hay xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống hôn nhân căng thẳng, không có hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân nhau được 04 năm. Do mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không thể chung sống với nhau được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh và chị L được ly hôn với nhau. Chị L cũng trình bày mâu thuẫn vợ chồng như anh K nêu trên và đồng ý ly hôn với anh K. Như vậy, xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh K và chị L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và anh chị cùng đồng thuận ly hôn nên cần căn cứ quy định tại các Điều 51 và 55 của Luật HN&GĐ năm 2014 để công nhận thỏa thuận thuận tình ly hôn của anh chị.
[3] Về con chung: Anh K và chị L có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thảo V, sinh ngày 12/5/2010 và Nguyễn Chí B, sinh ngày 04/6/2013. Anh chị cùng thống nhất giao cháu B cho anh K và giao cháu V cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên, có khả năng lao động; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Xét thỏa thuận này của anh chị là tự nguyện và đúng quy định của pháp luật nên được HĐXX công nhận.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh K và chị L không có tài sản chung và nợ chung nên đều không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí LHST: Anh K tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 91, 93, 94, 95, 108, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của BLTTDS năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật HN&GĐ năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Duy K và chị Nguyễn Thị Hoài L.
2. Về con chung: Công nhận thỏa thuận của anh K và chị L, giao cháu Nguyễn Chí B, sinh ngày 04/6/2013 cho anh K và giao cháu Nguyễn Thị Thảo V, sinh ngày 12/5/2010 cho chị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên, có khả năng lao động. Do mỗi người nuôi 01 con chung nên không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có quyền đến thăm nom con, người trực tiếp nuôi con không được cản trở nếu họ không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hai đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Duy K tự nguyện chịu toàn bộ án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0002217 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Anh K được trả lại 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí Ly hôn sơ thẩm đã nộp.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận:
|
-TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND huyện Kbang; -Chi cục THADS huyện Kbang; -Các đương sự; -UBND cấp xã nơi ĐKKH; -Lưu HSVA, VPTA. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Phương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vương Thị Hội Nguyễn Văn Thi |
Nguyễn Thị Hồng Phương |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST. ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST.
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa anh K và chị L
