|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/7/2024 V/v "Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Lương
- Ông Huỳnh Thanh Trà
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham
- gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tới – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu,
- thành phố Đà Nẵng.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24A/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Ngọc M, sinh năm: 1995; (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình.
Người được ủy quyền nộp, nhận văn bản tố tụng: Công ty L. Đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Trương Công S – Giám đốc.
Địa chỉ: H P, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng.
2. Bị đơn: Ông Hoàng Thế A, sinh năm: 1991; (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình.
Địa chỉ tạm trú: K T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và văn bản gửi Tòa án, nguyên đơn bà Dương Thị Ngọc M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Ngọc M và ông Hoàng Thế A kết hôn vào năm 2021, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không cùng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, thiếu tin tưởng và tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng trầm trọng nên ông bà đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Bà M xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông A, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà mong muốn Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông A.
- Về con chung: Bà M xác định bà và ông A không có con chung.
- Về tài sản chung: Bà M xác định bà và ông A không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà M xác định bà và ông A không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để tiến hành hòa giải, tuy nhiên ông Hoàng Thế A vẫn vắng mặt không có lý do. Ngày 08/7/2024, ông A gửi văn bản trình bày ý kiến đồng ý ly hôn với bà M, xác định vợ chồng không có con chung, tài sản chung và nợ chung. Ngoài ra, ông A đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông.
Kết quả xác minh tại địa phương nơi ông A và bà M sinh sống xác định, ông Hoàng Thế A và bà Dương Thị Ngọc Mai S1 khi kết hôn có thuê nhà ở thôn C, xã Đ để chung sống. Đến đầu năm 2023 thì vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm rõ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn là có cơ sở và bị đơn đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị Ngọc M đối với ông Hoàng Thế A là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Thế A và bà Dương Thị Ngọc M kết hôn vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu khởi kiện của bà M thì thấy: Quá trình chung sống, do tính tình, quan điểm không phù hợp, dẫn đến ông A và bà M thường xuyên mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Mâu thuẫn đã kéo dài và không thể khắc phục. Quá trình giải quyết vụ án, ngày 08/7/2024 ông A gửi văn bản trình bày ý kiến đồng ý ly hôn với bà M. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà M và ông A đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung: Ông A và bà M xác định không có con chung nên HĐXX không giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Ông A và bà M xác định không có tài sản chung nên HĐXX không giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Ông A và bà M xác định không có nợ chung nên HĐXX không giải quyết.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Dương Thị Ngọc M phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Ngọc M về việc “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Hoàng Thế A.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: bà Dương Thị Ngọc M được ly hôn với ông Hoàng Thế A.
- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Dương Thị Ngọc M phải chịu, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí HNGĐ bà M đã nộp theo biên lai thu số 0000003 ngày 28/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà M đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Thủy |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Ngọc M về việc “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Hoàng Thế A
