|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày: 22-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phú Hữu
- Ông Trần Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim H - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) và điểm cầu thành phần (Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ), Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phước D, sinh năm: 1983, tại tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi thường trú: Tổ D, ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú rõ ràng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm: 1964 và bà: Lê Thị E, sinh năm: 1960; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Ngày 10/01/2024; Tạm giam: Ngày 19/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Thúy Q, sinh năm 1996 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt). Nơi thường trú: Tổ 14, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Minh H1, sinh năm 1994 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt). Nơi thường trú: Tổ A, ấp Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng:
Nguyễn Sơn C, sinh năm 1985 (vắng mặt). Nơi thường trú: Xã H, huyện T, tỉnh Long An.
Người hỗ trợ phiên tòa:
- Đại úy Dương Quốc N – Cán bộ, tổ trưởng.
- Hạ sĩ Lê Tuấn A – Chiến sĩ, thành viên.
- Hạ sĩ Nguyễn Thuận H2 – Chiến sĩ, thành viên.
- Hạ sĩ Huỳnh Duy K – Chiến sĩ, thành viên.
- Hạ sĩ Phạm Lê T – Chiến sĩ, thành viên.
Là cán bộ, chiến sỹ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Những người hỗ trợ phiên tòa có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 02/01/2024, Nguyễn Phước D bị Tổ tuần tra thuộc Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính về hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà trong hơi thở có nồng độ cồn, không có giấy phép lái xe và không chấp hành hiệu lệnh của lực lượng kiểm soát giao thông.
Đến khoảng 09 giờ ngày 10/01/2024, D đến Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an thành phố C tại khóm C, phường D, thành phố C. Tại đây, D được anh Nguyễn Minh H1 và chị Trần Thúy Q, là cán bộ được phân công trực trực nghiệp vụ, đang mặc trang phục Ngành Công an theo đúng quy định, hướng dẫn thực hiện thủ tục xử lý vi phạm hành chính thì D có thái độ không hợp tác, dùng lời nói thô tục lớn tiếng để phản ứng và có hành vi xô ngã ghế tại phòng làm việc. Khi anh H1 đến giải thích thì D bất ngờ có hành vi dùng tay phải cầm nón bảo hiểm đánh một cái trúng vào vùng mặt bên trái của anh H1 gây thương tích. Sau đó, người dân đang đến làm thủ tục tại đây can ngăn và khống chế D. Công an P tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi chống người thi hành công vụ và chuyển hồ sơ cùng vật chứng là một cái nón bảo hiểm màu xanh đen của D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C để giải quyết theo thẩm quyền.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 75/KLTTCT-TTPYĐT ngày 16/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đối với Nguyễn Minh H1 xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 01%. Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động và do vật tày gây ra.
Do thương tích D gây ra cho Nguyễn Minh H1 không lớn nên anh H1 không có đơn yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu bị cáo D bồi thường về dân sự.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Phước D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản xem xét dấu vết thân thể; kết luận giám định pháp y về thương tích; biên bản, sơ đồ và bản ảnh khám nghiệm hiện trường; biên bản họp giao ban và phân công nhiệm vụ; lời khai người liên quan; lời khai người làm chứng; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 34/CT-VKS-TPCL ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Phước D về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Áp dụng Điều 330 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phước D với mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phước D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên; Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Phước D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-TPCL ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản xem xét dấu vết thân thể; kết luận giám định pháp y về thương tích; biên bản, sơ đồ và bản ảnh khám nghiệm hiện trường; biên bản họp giao ban và phân công nhiệm vụ; lời khai người liên quan; lời khai người làm chứng; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 09 giờ, ngày 10/01/2024 tại Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an thành phố C, bị cáo D có thái độ không hợp tác với cán bộ được phân công trực nghiệp vụ; dùng lời nói thô tục lớn tiếng, xô ngã ghế trong phòng làm việc và sử dụng nón bảo hiểm đánh một cái trúng vào vùng mặt bên trái của anh Nguyễn Minh H1, là cán bộ Công an đang hướng dẫn D về hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, gây thương tích với tỷ lệ là 01%.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định; thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; Bị cáo dùng lời nói thô tục lớn tiếng, xô ngã ghế trong phòng làm việc và có hành vi dùng vũ lực là sử dụng nón bảo hiểm đánh một cái trúng vào vùng mặt bên trái của anh Nguyễn Minh H1 để cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Chống người thi hành công vụ” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Phước D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính, đồng thời xâm hại đến sức khỏe của cá nhân người thi hành công vụ. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo được Cán bộ Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an Thành phố C đang được phân công trực nghiệp vụ hướng dẫn về hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đúng quy định, nhưng bị cáo đã vô cớ dùng lời nói thô tục lớn tiếng, xô ngã ghế trong phòng làm việc và có hành vi dùng vũ lực là sử dụng nón bảo hiểm là hung khí nguy hiểm đánh một cái trúng vào vùng mặt bên trái của anh Nguyễn Minh H1 để cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ, nên thuộc trường hợp phạm tội có tính chất côn đồ, quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Không có.
[6] Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) nón bảo hiểm, màu xanh đen, đã qua sử dụng, là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2024).
[7] Các vấn đề khác:
- Đối với hành vi bị cáo gây thương tích cho Nguyễn Minh H1 với tỷ lệ là 01%, anh H1 có đơn yêu cầu không xử lý hình sự và không yêu cầu bị cáo D bồi thường về dân sự, nên không xem xét.
- Đối với hành vi bị cáo có lời nói thô tục lớn tiếng với cán bộ đang trực nghiệp vụ, xô ngã ghế tại trụ sở Cơ quan công an đang làm việc, diễn ra nhanh và được khống chế, ngăn chặn ngay nên xét thấy chưa đến mức truy cứu D về Tội gây rối trật tự công cộng.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố C về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước D, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không có.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) nón bảo hiểm, màu xanh đen, đã qua sử dụng.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2024).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Phước D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Phong |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về chống người thi hành công vụ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chống người thi hành công vụ
