Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THỦY

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 20-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Trung Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Xuân Cải

Bà Bùi Thị Phi

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Hà, Thư ký viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy tham gia phiên toà:

Ông Đinh Thế Huy, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/HSST-QĐ ngày 25/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/HSST-QĐ ngày 22/7/2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn N, sinh ngày 24/5/2002; Nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mạc Hải C và bà Phạm Thị G; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo Phạm Văn N bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn N: Ông Vũ Đình H; Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Trần Quốc B, sinh năm 1993; (Vắng mặt)
  • + Anh Quách Mạnh Đ, sinh năm: 1985; (Vắng mặt)
  • + Anh Đinh Xuân H1, sinh năm: 1989; (Vắng mặt)
  • + Anh Phạm Thanh T, sinh năm: 1986; (Vắng mặt)
  • Cùng công tác tại: Đ2 đương bộ số 02 – Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh H
  • + Bà Phạm Thị G, sinh năm 1981; (Có mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

· Người làm chứng:

  • + Ông Đỗ Văn X; sinh năm 1964; (Vắng mặt);
  • Địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình
  • + Ông Dương Văn D, sinh năm 1067; (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Xóm C, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện kế hoạch số 152/KH-PC08 ngày 28/11/2023, Kế hoạch số 140/KH-PC08-DD1 và Kế hoạch công tác tuần từ ngày 19/02/2024 đến ngày 25/02/2024 của Phòng C Công an tỉnh H. Tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số Đ2 – Phòng C Công an tỉnh H gồm: Thiếu tá Trần Quốc B – Tổ trưởng, các tổ viên gồm: Đại úy Quách Mạnh Đ, Đại úy Đinh Xuân H1, và Đại úy Phạm Thanh T tiến hành tuần tra, kiểm soát lưu động trên tuyến đường H từ KM 149 đến Km 503+ 220 thuộc địa phận xã L, xã L, huyện Y và tuần tra kiểm soát tại một điểm tại Km 493+900 thuộc địa phận xóm C, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, vào hồi 11 giờ 06 phút ngày 20/02/2024 đồng chí T sử dụng máy đo kiểm tra tốc độ phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 36AU-029.49 do Phạm Văn N điều khiển đã vi phạm tốc độ (72/50km) trong khu vực đông dân cư vì vậy đã sử dụng bộ đàm cầm tay thông báo cho Tổ tuần tra kiểm soát gồm thiếu tá B, đại úy Được và đại úy H1 biết để dừng phương tiện. Ngay sau khi nhận được tin báo thiếu tá B đã phân công đại úy Được triển khai phương án dừng phương tiện để kiểm tra xử lý, thiếu tá B đã sử dụng cọc tiêu di động có gắn phản quang đặt tại vạch kẻ giữa đường và đứng tại đó để phân luồng, giảm tốc độ các phương tiện tham gia giao thông. Khi xe mô tô do bị cáo điều khiển cách vị trí tổ công tác khoảng 50m Phạm Văn N quan sát thấy các đồng chí Cảnh sát giao thông đang nhìn về phía mình, cùng lúc này khi thấy xe mô tô do bị cáo điều khiển cách khoảng 30m thiếu tá B sử dụng gậy chỉ huy giao thông và còi ra tín hiệu dừng phương tiện. Do chưa có giấy phép lái xe, lo sợ bị kiểm tra sẽ bị xử phạt nên Phạm Văn N đã không chấp hành hiệu lệnh, tìm cách vượt qua sự kiểm soát của Tổ tuần tra vì vậy đã tăng tốc vượt lên xe ô tô bên trái theo chiều chuyển động sau đó đánh lái sang bên phải vượt qua vị trí đồng chí B để bỏ chạy. Lúc này đại úy Được đứng tại mép đường bên phải theo hướng Hà Nội – Thanh Hóa cách vị trí thiếu tá B khoảng 15m tiếp tục dùng gậy chỉ huy giao thông và còi tín hiệu ra hiệu lệnh dừng phương tiện, quan sát thấy đại úy Được ra hiệu lệnh dừng xe Phạm Văn N tiếp tục tăng ga với mục đích bỏ chạy, nhưng do không làm chủ được tay lái và đại úy Đ không kịp né tránh nên xe mô tô do bị cáo điều khiển đã đâm vào đại úy Được, làm xe mô tô và bị cáo ngã văng ra mép đường bên phải theo chiều chuyển động, đại úy Được bị thương được đi cấp cứu. Ngay sau đó bị cáo đến Công an huyện Y để đầu thú.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 44/KLTTCT – TTPY ngày 29/02/20224 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận “Tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của Quách Mạnh Đ tại thời điểm giám định là 04%"

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận “Những hư hỏng thiệt hại của xe mô tô kiển kiểm soát 36AU-029.49 có giá trị là 720.000₫”

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 xe mô tô kiển kiểm soát 36AU-029.49 nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER màu sơn đen, xe cũ đã qua sử dụng.
  • 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô kiển kiểm soát 36AU-029.49 mang tên Phạm Văn N.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động đến mẹ đẻ là bà Phạm Thị G đến thăm hỏi và bồi thường cho đại úy Quách Mạnh Đ và khắc phục hậu quả về vật chất là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). Anh Đ đã nhận số tiền trên và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự cũng như hình sự đối với hành vi gây thương tích của bị cáo.

Tại cáo trạng số 15/CT-VKS-YT ngày 26 tháng 4 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Thực hành quyền công tố tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, sau khi xem xét đánh giá toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1) Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Văn N mức án từ 06 (sáu) đến 08 (tám) tháng tù.

2) Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

  • Trả lại cho bị cáo các vật chứng:
    • - 01 (xe mô tô biển kiểm soát 36AU-029.49 nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER màu sơn đen, xe cũ đã qua sử dụng.
    • - 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 36AU-029.49 mang tên Phạm Văn N.

Phần tranh luận:

Bị cáo Phạm Văn N nhất trí với bản luận tội, bị cáo không tranh luận.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Văn N mức án 06 (sáu) tháng tù và trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không tranh luận

Bị cáo Phạm Văn N nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành người tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa Bình, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng:

Xét thấy người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn N tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 11 giờ 06 phút ngày 20/02/2024, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36AU-029.49 chuyển động theo hướng Hà Nội – Thanh hóa khi đến đoạn đường H thuộc xóm C, xã L, huyện Y đã vượt quá tốc độ cho phép (72/50km) vì vậy Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 02 – Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh H do thiếu tá Trần Quốc B làm tổ trưởng đã tiến hành đúng các quy định để dừng phương tiện do bị cáo điều khiển để kiểm tra, xử lý. Khi quan sát thấy phương tiện của mình bị yêu cầu dừng để kiểm tra do bị cáo không có giấy phép lái xe lo sợ sẽ bị xử phạt vì vậy bị cáo tăng tốc vượt qua xe ô tô cùng chiều, vượt qua vị trí của thiếu tá B, lúc này đại úy Quách Mạnh Đ tiếp tục ra tín hiệu dừng xe nhưng bị cáo không chấp hành mà tiếp tục tăng tốc dẫn đến không làm chủ được tốc độ và làm chủ được tay lái đã đâm va vào người đại úy Quách Mạnh Đ. Hậu quả đại úy Quách Mạnh Đ bị tổn hại 04 % sức khoẻ, xe mô tô hư hỏng. Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn N đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến việc thực hiện công vụ của người thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính nhà nước; Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính ngông cuồng, coi thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần thiết buộc bị cáo sống cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo thành người có ích cho xã hội.

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Văn N không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi gây thương tích cho đại úy Quách Mạnh Đ đã tích cực tác động đến gia đình bồi thường về sức khỏe cho đại úy Được với số tiền 10.000.000đ đại úy Được sau đó có ý kiến xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo (BL 194), đây là quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

[4] Về hình phạt chính:

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có đủ điều kiện cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Quách Mạnh Đ đã nhận bồi thường số tiền tổn hại về sức khỏe là 10.000.000₫ và không đề nghị bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng của vụ án:

01 (xe mô tô biển kiểm soát 36AU-029.49 nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER màu sơn đen, xe cũ đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo sử dụng tham gia giao thông, quá trình điều tra đã làm rõ mặc dù xe mô tô trên mang tên bị cáo nhưng nguồn gốc do bà Phạm Thị G bỏ tiền ra để mua và cho bị cáo đứng tên trên giấy đăng ký xe, bên cạnh đó bị cáo không có giấy phép lái xe mục đích là bỏ chạy tránh bị xử phạt dẫn đến không làm chủ được tốc độ và tay lái nên đã đâm va vào đại úy Quách Mạnh Đ vì vậy cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho bị cáo Phạm Văn N.

- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 36AU-029.49 mang tên Phạm Văn N hiện được chuyển theo hồ sơ vụ án đây là giấy tờ xe của bị cáo cần trả lại cho bị cáo, vì vậy chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thủy để trả lại cho bị cáo khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi gây thương tích cho đại úy Quách Quách M được với tỉ lệ thương tích là 4%, anh Quách Mạnh Đ không yêu cầu giải quyết về hình sự vì vậy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định.

Đối với số tiền 10.000.000đ bà Phạm Thị G bỏ ra thay bị cáo bồi thường cho anh Quách Mạnh Đ, nay bà G không yêu cầu bị cáo phải trả lại vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình của bản luận cứ của người bào chữa về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí:

Bị cáo bị kết án phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Chống người thi hành công vụ”

Căn cứ: Khoản 1 Điều 330, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 20/02/2024. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về hành vi tội phạm khác.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn N:

  • - 01 xe mô tô biển kiểm soát 36AU-029.49 nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER màu sơn đen, xe cũ đã qua sử dụng

Tình trạng vật chứng có đặc điểm mô tả cụ thể tại biên bản giao nhận vật chứng bản số 23 ngày 02/5/2024 giữa Cơ quan điều tra công an huyện Y, tỉnh Hoà Bình và Chi cục Thi hành án huyện Yên Thủy, tỉnh Hoà Bình.

- Tòa án chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thủy 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy, số 36 000163 mang tên Phạm Văn N, biển số đăng ký 36AU-029.49 để trả lại cho bị cáo Phạm Văn N.

3. Án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Yên Thủy;
  • - CA huyện Yên Thủy;
  • - THAHS - DS huyện Yên Thủy;
  • - Bị cáo; Người bào chữa
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Trung Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger