|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày 20 - 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Châu Trung Trực
Ông Nguyễn Văn Hiển
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Phạm Hoài Hận - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ X (tên gọi khác: X1), sinh năm 1983 tại Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Khóm D, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C (đã chết) và bà Trần Thị H (đã chết); có vợ là Nguyễn Mỹ L và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/6/2024 đến nay; (có mặt)
- Những người đại diện hợp pháp của bị hại – Huỳnh Thiên L1:
+ Bà Nguyễn Thị Kim V; Cư trú tại: Khóm 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; (vắng mặt)
+ Bà Huỳnh Thị Vân A; Cư trú tại: Khóm 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; (vắng mặt)
+ Ông Huỳnh Phú C1, sinh năm 1986; Cư trú tại: Khóm 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; (có mặt)
+ Ông Huỳnh Thiên T, sinh năm 1978; Cư trú tại: Khóm 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; (có mặt)
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Vũ Hoàng Trí T1, sinh năm 1986; Cư trú tại: Khóm 2, phường 5, thành phố C, tỉnh Cà Mau; (có mặt)
+ Ông Đinh Trọng H1, sinh năm 1986; Cư trú tại: Khóm 6B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ ngày 21/4/2024, bị cáo Đỗ X điều khiển xe mô tô loại honda hiệu Wave RSX biển kiểm soát 69N1 - 207.61, phía sau chở ông Tăng Văn Quí E đi từ hướng Cà Mau về Đ. Khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đoạn lộ thuộc ấp T, xã T, huyện Đ thì X thấy ông Huỳnh Thiên L1 đang điều khiển xe đạp cùng chiều cách X khoảng 25-30m. Sau khi nhìn thấy ông L1, X tiếp tục điều khiển xe về phía trước. Do thiếu sự chú ý và quan sát, không phanh xe kịp thời nên khi ông L1 rẽ trái vào nhà thờ T3 thì X va chạm xe máy vào giữa thân xe đạp của ông L1, làm ông L1 văng ra khỏi xe đạp. X ngã ngoài lề lộ bên phải theo hướng di chuyển của X, ông L1 được đưa đi cấp cứu và tử vong tại bệnh viện.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra tai nạn thẳng, mặt đường trải nhựa rộng 7m50, không có chướng ngại vật. Vị trí va chạm giữa hai xe theo hướng di chuyển của X và ông L1 là 1m30. Vị trí ông L1 ngã nằm trên lộ cách lề phải 3m20 và cách vị trí va chạm 11m20. Vị trí ngã xe đạp sát lề trái cách vị trí va chạm 10m30. Vị trí ngã xe của X bên ngoài cách lề phải 4m70 và cách vị trí va chạm 28m80.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 25/KLGĐTT-PY ngày 14/5/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh C kết luận nguyên nhân chết của Huỳnh Thiên L1: “Chấn thương sọ não nặng, đa chấn thương”.
Vật chứng thu giữ: 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Đỗ X, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 69N1 - 207.61 đã trả lại cho bị cáo; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu honda, loại Wave RSX, biển kiểm soát 69N1 - 207.61, 01 chiếc xe đạp martin.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo Đỗ Xuân v “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ X phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; khoản 1 Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo X mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và đại diện hợp pháp bị hại đã thoả thuận bồi thường xong và không yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình. Do đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nhận lại xe đạp của bị hại nên tịch thu sung ngân sách nhà nước. Bị cáo xin nhận lại xe máy nên cần trả cho bị cáo một xe mô tô biển kiểm soát 69N1 - 207.61 là phù hợp;
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận với Kiểm sát viên. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Ông Huỳnh Phú C1, ông Huỳnh Thiên T xác định đã nhận chi phí mai táng và hỗ trợ từ bị cáo số tiền 44.000.000 đồng và không đặt ra yêu cầu bồi thường nào khác. Đối với xe đạp của bị hại, không yêu cầu nhận lại.
- Ông Vũ Hoàng Trí T1 xác định xe máy đã bán cho bị cáo nên không yêu cầu gì khác, yêu cầu xử lý xe theo đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Thực tế quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim V, bà Huỳnh Thị Vân A, ông Đinh Trọng H1 được triệu tập tham gia xét xử nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy, ông H1 hiện tại đã bỏ địa phương không xác định được nơi cư trú nên không làm việc được; bà V và bà Vân A đều có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không đặt ra yêu cầu bồi thường thêm, việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên là đúng quy định.
[3] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án qua đó chứng minh được: Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 21/4/2024, bị cáo đã điều khiển xe máy tham gia lưu thông trên đường có hành vi thiếu quan sát, không giảm tốc độ và không có tín hiệu còi báo đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, vi phạm quy định về quy tắc giao thông đường bộ, gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông dẫn đến tai nạn va chạm với xe đạp do ông Huỳnh Thiên L1 điều khiển, hậu quả đã làm ông L1 tử vong.
Do đó, hành vi của bị cáo Đỗ X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến tính mạng người khác được pháp luật bảo vệ. Mặc dù tai nạn xảy ra là do lỗi vô ý từ bị cáo, nhưng tính chất vụ việc bị cáo gây ra làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm mất an toàn giao thông, gây tâm lý hoang mang lo sợ của đa số người tham gia giao thông nên cần xem xét áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cân nhắc tình tiết bị hại cũng có phần lỗi khi chuyển hướng rẽ nhưng không có tín hiệu báo rẽ.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi sai trái, thành khẩn khai báo, đã khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và được những người đại diện hợp pháp của bị hại xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo phạm tội lần đầu với nhân thân tốt, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo hưởng án treo thấy rằng: Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý, bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách hiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng. Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, thể hiện được tính nghiêm minh cũng như sự khoan hồng của pháp luật. Đối chiếu các quy định pháp luật, bị cáo đủ điều kiện áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị của đại diện Viểm kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền khắc phục hậu quả từ bị cáo số tiền 44.000.000 đồng xong và không đặt ra yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là phù hợp quy định.
[9] Đối với xe máy bị cáo điều khiển do ông Định Trọng H2 đứng tên, hiện tại ông H2 không có mặt địa phương nên không thể làm việc. Tại phiên tòa, bị cáo và ông T1 xác định xe máy do ông T1 mua của người tên T2, không xác định được họ và địa chỉ cụ thể, giấy tờ đăng ký xe tên Đinh Trọng H1 hiện chưa làm thủ tục sang tên, ông T1 đã bán xe cho bị cáo sử dụng khoảng 2 năm nay. Do đó, cần xác định xe máy thuộc sở hữu của bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng: Xe đạp còn giá trị sử dụng là tài sản của bị hại, nhưng những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với xe máy bị cáo có yêu cầu được nhận lại nên cần giao trả xe cho bị cáo là phù hợp.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; khoản 1 Điều 65; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ X phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân 0 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Xuân v cho Ủy ban nhân dân phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước một xe đạp hiệu Martin, đã qua sử dụng;
Trả lại cho bị cáo Đỗ Xuân m xe mô tô loại honda, nhãn hiệu Wave RSX, biển kiểm soát 69N1 - 207.61.
(Số vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25 tháng 7 năm 20224).
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Xuân p chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Bị cáo và đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Trúc |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: án treo
