|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HS-ST
Ngày: 20/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đoạt
Bà Phạm Hồng Gái
Thư ký phiên tòa: Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024. Tại trụ sở TAND huyện Hòn Đất, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:
Dương Thanh T, sinh ngày 18/7/1986; Tên gọi khác: T; Nơi ĐKTT: 9B N, phường V, thành phố R, tỉnh K; Chỗ ở hiện nay: hẻm 97, L, phường V, thành phố R, tỉnh K; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ tên Võ Thị Kim Nguyệt, sinh năm 1987 và 03 người con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Thanh T là người thường sử dụng trái phép chất ma túy, trong những lần đi chơi, sử dụng ma túy, T quen biết với một người tên Danh Dô (không rõ nhân thân, lai lịch, Danh Dô cũng là người sử dụng ma túy và bản túy), sau khi quen biết, T đã nhiều lần mua ma túy của Danh Dô về để sử dụng
Khoảng 08 giờ ngày 15/12/2023, T liên lạc với Danh Dô mua một gói ma túy giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để sử dụng, Danh Dô đồng ý và hẹn T khoảng 13 giờ cùng ngày đến chỗ cây xăng gần cầu số 01 thuộc phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang sẽ có người đem ma túy đến giao cho T và nhận tiền, đến giờ hẹn T đi bộ đến chỗ cây xăng gặp 01 thanh niên lạ mặt chạy xe mô tô loại Dream, không rõ biển số đậu sẵn, khi gặp T người thanh niên hỏi T có phải tên Tý là người điện thoại mua ma túy hay không, T trả lời phải, T đưa cho người thanh niên 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhận tiền xong người này chỉ cho T biết gói ma túy bỏ trong bao thuốc hiệu Hero để lề đường chỗ cây cột bê tông có sơn màu trắng, đỏ cách chỗ T đứng khoảng 10 mét, sau đó người thanh niên chạy xe đi, T tự đến lấy bao thuốc lá hiệu Hero mở ra thấy bên trong có 01 gói nylon đựng ma túy, T bỏ vào túi quần rồi đi về nhà trọ vào nhà vệ sinh T phân chia thành 03 (ba) gói ma túy nhỏ gồm: 01 gói T dùng băng keo màu đen dán lại bỏ vào túi áo khoác, 01 gói để trong túi quần, 01 gói để trong bao thuốc lá hiệu Hero, sau đó T ra đón xe ôm lên thị trấn Hòn Đất, mục đích mang số ma túy đi để sử dụng ma túy với bạn tên Bé và Lâm, (không rõ nhân thân, lai lịch, Bé và Lâm cũng là đối tượng sử dụng ma túy) trên đường đi, khi đến quán cà phê của ông Dương Văn Đấu gần cầu Tà Lúa thuộc ấp Vàm Răng, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, T xuống xe không đi nữa vào quán ngồi uống cà phê khoảng 20 phút thì lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ trên người T có 03 (ba) gói ma túy.
* Bản kết luận giám định vụ số: 1306/KL-KTHS ngày 21/12/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:
- Mẫu 01: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,1190 gam.
- Mẫu 02: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,1856 gam.
- Mẫu 03: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,4969 gam.
- Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ
Tại Cáo trạng của Viện kiểm sát số: 33/CT-VKS-HĐ ngày 07/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất đã truy tố bị cáo Dương Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Dương Thanh T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Dương Thanh T không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Vật chứng vụ án:
Về thu giữ vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất đã thu giữ:
- 01 (một) gói nylon được hàn kín đánh số 1, có dán băng keo màu đen, kích thước 4,2cm x 2,3cm, bên trong có khối lượng 1,0758 gam ma túy, loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, ký hiệu vụ số 1306/2023).
- 01 (một) gói nylon có rãnh gài đánh số 2, kích thước 4,3cm x 3,9cm, bên trong có khối lượng 2,1162 gam ma túy, loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, ký hiệu vụ số 1306/2023).
- 01 (một) gói nylon có rãnh gài đánh số 3, kích thước 3,9cm x 2,3cm, bên trong có khối lượng 1,4471 gam, ma túy loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, ký hiệu vụ số 1306/2023)
- 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Hero.
- 01 cái áo khoác màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A21s, màu xanh, đã qua sử dụng
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng đối với số mẫu vật còn lại sau giám định từ mục 1 đến mục 3 và các vật chứng từ mục 4 đến mục 6 không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo Dương Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa: Bị cáo Dương Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình là đúng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như nội dung bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã công bố tại Tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Hòn Đất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/12/2023 tại ấp Vàm Răng, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, Dương Thanh T đã có hành vi cất giấu trong người 03 (ba) gói ma túy có khối lượng 4,8015 gam, Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Hành vi của bị cáo Dương Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy. Hành vi cất giữ bất hợp pháp 4,8015 gam loại Methamphetamine trong người của bị cáo với mục đích để sử dụng là cất giữ bất hợp pháp, trái quy định của Nhà nước nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người thường xuyên sử dụng ma túy, đã thành niên nên biết tác hại của ma túy đến sức khỏe, cũng như về việc tha hóa về đạo đức, nhưng bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do đó, cần phải dành cho bị cáo một hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng có nhân thân tốt.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tính tiết tăng nặng tại Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS khi lượng hình đối với bị cáo.
[5] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Viện kiểm sát truy tố bị cáo Dương Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử cần quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Dương Thanh T.
[7] Các vấn đề khác:
* Vật chứng vụ án:
Đối với các vật chứng gồm:
- 01 (một) gói nylon được hàn kín đánh số 1, có dán băng keo màu đen, kích thước 4,2cm x 2,3cm, bên trong có khối lượng 1,0758 gam ma túy, loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, ký hiệu vụ số 1306/2023).
- 01 (một) gói nylon có rãnh gài đánh số 2, kích thước 4,3cm x 3,9cm, bên trong có khối lượng 2,1162 gam ma túy, loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, ký hiệu vụ số 1306/2023).
- 01 (một) gói nylon có rãnh gài đánh số 3, kích thước 3,9cm x 2,3cm, bên trong có khối lượng 1,4471 gam, ma túy loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, ký hiệu vụ số 1306/2023).
Xét thấy đây là ma túy được hoàn lại sau giám định nên nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Hero và 01 cái áo khoác màu đen, đã qua sử dụng bị cáo dùng để đựng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối 01 điện thoại di động hiệu Samsung A21s, màu xanh, đã qua sử dụng. Xét thấy đây là điện thoại bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy, tuy nhiên điện thoại đã bị hư hỏng nên cần tịch tiêu hủy.
* Về án phí: Buộc bị cáo Dương Thanh T bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
* Đối với hành vi của đối tượng tên Danh Dô (là đối tượng bán chất ma túy cho bị can Dương Thanh T) đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Quá trình điều tra, chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tương tên Danh Dô nên không có căn cứ xử lý. Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rỏ, xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Dương Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Dương Thanh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) gói nylon được hàn kín đánh số 1, có dán băng keo màu đen, kích thước 4,2cm x 2,3cm, bên trong có khối lượng 1,0758 gam ma túy, loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, ký hiệu vụ số 1306/2023).
- 01 (một) gói nylon có rãnh gài đánh số 2, kích thước 4,3cm x 3,9cm, bên trong có khối lượng 2,1162 gam ma túy, loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, ký hiệu vụ số 1306/2023).
- 01 (một) gói nylon có rãnh gài đánh số 3, kích thước 3,9cm x 2,3cm, bên trong có khối lượng 1,4471 gam, ma túy loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, ký hiệu vụ số 1306/2023).
- 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Hero.
- 01 cái áo khoác màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A21s, màu xanh, đã qua sử dụng.
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKS ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Dương Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi Nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Quốc Chiến |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thanh T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
