|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HNGĐ – ST
Ngày 19 tháng 7 năm 2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lã Hùng Cường.
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa; Bà Trần Thị Huệ.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 37/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024, về việc hôn nhân và gia đình, theo đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST- DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Kiều Văn H, sinh năm 1995.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1996 .
Đều ĐKHKTT: Thôn Y, xã T, thị xã S, TP .;
(Anh H có đơn xin xét xử vắng mặt; Chị T Vắng mặt lần 2 không có lý do);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, anh Kiều Văn H là nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn ngày 24/4/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã S, TP . qua tự do tìm hiểu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn Y, xã T, thị xã S, TP .. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống không hợp tính cách dẫn đến thường xuyên xô xát, cãi vã. Hai bên gia đình đã nhiều lần can thiệp hòa giải nhưng không được. Từ tháng 7/2022 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, hai bên không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.
+ Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Kiều Phương T1, sinh ngày 10/9/2013 và cháu Kiều Gia H1, sinh ngày 13/9/2018. Hiện cháu T1 đang ở với anh H, cháu H1 đang ở với chị T. Nguyện vọng của anh H sau khi ly hôn là được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu T1, giao chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1. Anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công sức chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: Anh H xác định không có.
- Về án phí: Anh H tự nguyện chịu án phí ly hôn, theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị T theo địa chỉ gia đình tại thôn T, xã C, huyện M, TP ., tuy nhiên chị T không có văn bản trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đến Tòa án làm việc, hòa giải.
Tòa án cũng tiến hành xác minh tại nới đăng ký hộ khẩu thường trú của chị T và gia đình của chị T tại thôn T, xã C, huyện M, TP .. Tại Biên bản xác minh ngày 29/3/2024, Công an xã T cho biết chị T vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Y, xã T, thị xã S. Tại Biên bản xác minh ngày 14/5/2024, đại diện gia đình chị T cho biết: Chị T có kết hôn với anh Kiều Văn H, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã S, TP .. Sau khi kêt hôn, anh chị sinh sống tại thị xã S đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn, chị T chỉ nói với gia đình là không hợp. Từ năm 2022 đến nay anh chị sống ly thân. Anh chị có 02 con chung là cháu Kiều Phương T1, sinh ngày 10/9/2013 và cháu Kiều Gia H1, sinh ngày 13/9/2018, hiện cháu T1 đang ở với anh H và cháu H1 đang ở với chị T. Hiện chị T đang đi làm xa, gia đình không biết cụ thể địa chỉ nhưng chị T vẫn liên lạc về gia đình qua mạng xã hội Zalo. Gia đình có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho chị T và thông báo lại cho chị T biết, chị T có nói với gia đình đến tháng 6/2024 sẽ về để giải quyết ly hôn. Nay anh H có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với chị T, đại diện chính quyền địa phương và gia đình đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án cũng tiến hành lấy ý kiến của cháu Kiều Phương T1, tại Bản tự khai ngày 06/4/2024, cháu T1 trình bày nguyện vọng được ở với anh H.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do chị T không đến Tòa án làm việc nên anh H đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng như lời khai và biên bản xác minh.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Kiều Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Về con chung: Có 02 con chung là cháu Kiều Phương T1, sinh ngày 10/9/2013 và cháu Kiều Gia H1, sinh ngày 13/9/2018. Giao cháu T1 cho anh H, giao cháu H1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho hai bên đương sự. Anh H, chị T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau khi ly hôn không ai được ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Đề nghị Tòa án không xem xét. Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;
[1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, bị đơn trong vụ án là chị Nguyễn Thị T có nơi cư trú và đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, thị xã S, TP . nên theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, hòa giải, ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn. Ngày 27/6/2024, Tòa án đã mở phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án căn cứ điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 19/7/2024. Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa cho nguyên đơn và bị đơn theo đúng quy định tại Điều 172, 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]Về quan hệ hôn nhân: Anh Kiều Văn H và chị Nguyễn Thị T kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống anh H và chị T có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống dẫn đến mâu thuẫn nặng nề căng thẳng, hai bên gia đình cũng đã cố gắng hòa giải, giải quyết mâu thuẫn nhưng không được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2022 đến nay. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị T. Quá trình giải quyết vụ án, chị T không đến Tòa án làm việc, tham gia hòa giải không trình bày quan điểm về quan hệ hôn nhân, không đưa ra phương án giải quyết mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa anh H và chị T là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T, xử cho anh H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
[3] Về con chung: Anh Kiều Văn H và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là cháu Kiều Phương T1, sinh ngày 10/9/2013 và cháu Kiều Gia H1, sinh ngày 13/9/2018. Hiện cháu T1 đang ở với anh H, cháu H1 đang ở với chị T. Anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, giao chị T nuôi dưỡng cháu H1 sau ly hôn. Chị T không trình bày quan điểm về con chung khi ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh H là chính đáng. Hiện cháu T1 đang ở với anh H có nguyện vọng tiếp tục ở với bố, cháu H1 đang ở với chị T nên việc giao cháu T1 cho anh H, cháu H1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo được sự phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của các con chung cũng như phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Do anh Kiều Văn H không yêu cầu chị Nguyễn Thị T cấp dưỡng nuôi con chung, chị T không có yêu cầu gì nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Kiều Văn H và chị Nguyễn Thị T cho đến khi có yêu cầu mới. Sau khi ly hôn, anh H, chị T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
[4] Về tài sản chung, công sức chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị T không trình bày quan điểm về tài sản chung, công sức chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Nợ chung: Anh H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Chị T không trình bày quan điểm về công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Do chị T vắng mặt, nên giành quyền cho chị T có quyền khởi kiện anh H về phần tài sản chung, công sức chung, nợ chung khi có đủ căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[6] Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 6, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Kiều Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Kiều Phương T1, sinh ngày 10/9/2013 và cháu Kiều Gia H1, sinh ngày 13/9/2018. Giao cháu Kiều Phương T1 cho anh Kiều Văn H, giao cháu Kiều Gia H1 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu T1, cháu H1 đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Kiều Văn H và chị Nguyễn Thị T được quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Kiều Văn H và chị Nguyễn Thị T đến khi có đơn yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung, công sức: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung : Anh H xác định là không có.
Giành quyền cho chị Nguyễn Thị T có quyền khởi kiện anh Kiều Văn H về phần tài sản chung, công sức chung, nợ chung . Khi có đủ căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về án phí: Anh Kiều Văn H phải chịu toàn bộ 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Kiều Văn H đã nộp theo Biên lai số: 0000885 ngày 26/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Anh Kiều Văn H và chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết, tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lã Hùng Cường |
Bản án số 33/2024/HNGĐ – ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh H ly hôn chị T
