Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 33/2023/DS- ST

Ngày 19/12/2023

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn

Các Hội thẩm nhân dân : 1/ Ông Phạm Xuân Hùng; 2/ Bà Hoàng Thị Chung

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Đức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2023/TLST- DS, ngày 08/5/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXX – ST, ngày 30 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2023/QÐST- DS ngày 21/11/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; do ông Ngô Chí D, Chức vụ; Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật; Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn D1, Chức danh; Chuyên viên xử lý nợ; Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Có mặt

- Bị đơn: Ông Lã Văn X, sinh năm 1980
Bà Trần Thị H, sinh năm 1979
Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lã Văn H1, sinh năm 2005;
Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang;
(Ông X, bà H và anh H1 vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Trong đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa ông Nguyễn Văn D1 trình bày:

Năm 2017, Ngân hàng TMCP V có cho ông Lã Văn X, bà Trần Thị H vay tiền 02 hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng số LN1711080308195 ngày 05/12/2017 ông X, bà H vay số tiền là 136.000.000đ, thời hạn vay là 36 tháng tính từ ngày giải ngân vay vốn đầu tiên, mục đích sử dụng vay tiêu dùng, lãi suất 13%/năm, kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng /01 lần (biên độ + 6%/năm), các kỳ trả nợ, lãi suất cho vay được quy định cụ thể trong hợp đồng tín dụng, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả.

Hợp đồng tín dụng số 132-P-568189 ngày 07/12/2017 cho ông X, bà H vay số tiền là 30.000.000đ, thời hạn vay là 120 tháng tính từ ngày giải ngân vay vốn đầu tiên, mục đích sử dụng vay tiêu dùng, lãi suất theo quy định của V1, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là: Theo hợp đồng tín dụng số LN1711080308195 ngày 24/11/2017 là Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất ở, diện tích 285m² tại địa chỉ thôn M, xã A, huyện S; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ936162 do UBND huyện S cấp ngày 18/7/2006 ghi tên ông Lã Văn X, bà Trần Thị H.

Quá trình thực hiện hợp đồng, tạm tính: Đến ngày 19/12/2023 theo Hợp đồng tín dụng số LN1711080308195 ngày 05/12/2017; ông X, bà H đã trả được tiền gốc 98.495.261đ, lãi trả được 26.344.135đ. Nay còn nợ gốc 37.504.739đ, lãi 27.405.268đ và lãi chậm trả lãi là 5.469.600đ. Đến ngày 19/12/2023 theo Hợp đồng tín dụng số 132-P-568189 ngày 07/12/2017; ông X, bà H đã trả được tiền gốc 0đ, lãi trả được 32.904.092đ. Nay còn nợ gốc 30.000.000đđ, lãi 95.701.314đ.

Nay Ngân hàng TMCP V đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc ông Lã Văn X, bà Trần Thị H phải trả số tiền gốc và lãi của 02 hợp đồng là: Tiền gốc 67.504.739đ; tiền lãi tính đến hết ngày 19/12/2023 là 123.106.582đ; tổng cả gốc + lãi là 196.080.921đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 19/12/2023 đến khi ông Lã Văn X, bà Trần Thị H thanh toán hết khoản nợ tại Ngân hàng. Nếu ông X, bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu của ông X, bà H để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Ngoài ra không có ý kiến hoặc yêu cầu gì khác.

2. Bị đơn bà Trần Thị H quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án trình bày:

Năm 2017, ông Lã Văn X là chồng bà và bà có ký 02 hợp đồng vay tiền của Ngân hàng V. Việc lập và thông qua hợp đồng do bên Ngân hàng và ông X lập và thông qua, nội dung hợp đồng như thế nào và việc thế chấp tài sản như thế nào bà không xem nội dung nên không nắm rõ mà chỉ ký vào hợp đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thì bà không nắm rõ cụ thể, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra bà không có yêu cầu gì khác.

3. Bị đơn ông Lã Văn X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lã Văn H1 vắng mặt tại nơi cư trú, nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông X và anh H1. Do đó, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt ông X và anh H1 theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Tại phiên tòa Đại diện của Viện kiểm sát phát biểu về tố tụng và quan điểm việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến kết thúc phần tranh luận chuyển vào nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông X, bà H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H1 cố tình vắng mặt, không chấp hành là vi phạm về nghĩa vụ.

Về giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 122, Điều 131; Khoản 2 Điều 212; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 14 Thông tư 02/2015/TT-BTNMT, ngày 27/01/2015 của Bộ T; Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

Chấp nhận yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng TMCP V.

Buộc ông Lã Văn X, bà Trần Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền là: Tiền gốc = 67.504.739đ; tiền lãi tính đến hết ngày 19/12/2023 = 123.106.582đ; tổng cả gốc + lãi = 196.080.921đ.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Lã Văn X, bà Trần Thị H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất ông X, bà H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về tài sản thế chấp: Trường hợp ông Lã Văn X, bà Trần Thị H không trả khoản nợ cho Ngân hàng TMCP V thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất đối với thửa đất diện tích 285m² và quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với thửa đất tại địa chỉ thôn M, xã A (nay là xã V), huyện S; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ936162 do UBND huyện S cấp ngày 18/7/2006 cấp cho ông Lã Văn X, bà Trần Thị H.

Về án phí: Ông Lã Văn X, bà Trần Thị H phải chịu là 9.804.000đ án phí DSST. Hoàn trả Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lã Văn X, bà Trần Thị H phải chịu 1.400.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngân hàng TMCP V do ông Ngô Chí D - Chức vụ; Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật, ủy quyền cho ông Phạm Tuấn A – Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý V1 đại diện tham gia tố tụng, văn bản ủy quyền số 25/UQ-HĐQT ngày 07/7/2020; Ngày 12/7/2023 ông Nguyễn Chí D2 - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật ủy quyền bổ sung cho ông Đỗ Hoàng L - Chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ KHDN và XLN đại diện tham gia tố tụng, văn bản ủy quyền số 58/UQ-HĐQT ngày 12/7/2023; ngày 10/9/2023 ông Đỗ Hoàng L ủy quyền lại cho ông Nguyễn Văn D1 là người đại diện tham gia tố tụng giải quyết vụ án; các đương sự ủy quyền là đúng theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật Dân sự, cần được chấp nhận.

Bị đơn ông Lã Văn X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lã Văn H1 vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho bà H và niêm yết công khai tại nơi cư trú. Do ông X, bà H, anh H1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông X, anh H1 theo khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án ông X, anh H1 vắng mặt; Căn cứ Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng khởi kiện ông Lã Văn X, bà Trần Thị H về tiền cho vay có yêu cầu tính lãi, mục đích của ông X, bà H vay tiền là để phục vụ sản xuất đời sống gia đình. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động.

[3] Về nội dung vụ án:

3.1. Ngân hàng V khởi kiện ông Lã Văn X, bà Trần Thị H do thực hiện không đúng hợp đồng nên Ngân hàng yêu cầu ông X, bà H phải trả tiền gốc + lãi và xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Ông Lã Văn X, bà Trần Thị H vi phạm cam kết trả nợ nên Ngân hàng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo luật định theo Điều 35 và Điều 186 của Bộ luật Tố tụng dân sự,.

3.2. Xét hợp đồng tín dụng:

Theo hồ sơ, tài liệu trong hồ sơ vụ án thì năm 2017 ông Lã Văn X, bà Trần Thị H có ký 02 hợp đồng vay tiền Ngân hàng V như sau:

Hợp đồng tín dụng số LN1711080308195 ngày 05/12/2017 cho ông X, bà H vay số tiền là 136.000.000đ, thời hạn vay là 36 tháng tính từ ngày giải ngân vay vốn đầu tiên, mục đích sử dụng vay tiêu dùng, lãi suất 13%/năm, kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng /01 lần (biên độ + 6%/năm), các kỳ trả nợ, lãi suất cho vay được quy định cụ thể trong hợp đồng tín dụng, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả.

Hợp đồng tín dụng số 132-P-568189 ngày 07/12/2017 cho ông X, bà H vay số tiền là 30.000.000đ, thời hạn vay là 120 tháng tính từ ngày giải ngân vay vốn đầu tiên, mục đích sử dụng vay tiêu dùng, lãi suất theo quy định của V1, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là: Theo hợp đồng số LN1711080308195 ngày 24/11/2017 là Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất ở, diện tích 285m² tại địa chỉ thôn M, xã A, huyện S; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ936162 do UBND huyện S cấp ngày 18/7/2006.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Đến ngày 19/12/2023 theo Hợp đồng tín dụng số LN1711080308195 ngày 05/12/2017; ông X, bà H đã trả được tiền gốc 98.495.261đ, lãi trả được 26.344.135đ. Nay còn nợ gốc 37.504.739đ, lãi 27.405.268đ và lãi chậm trả lãi là 5.469.600đ. Đến ngày 19/12/2023 theo Hợp đồng tín dụng (HĐTD) số 132-P-568189 ngày 07/12/2017; ông X, bà H đã trả được tiền gốc 0đ, lãi trả được 32.904.092đ. Nay còn nợ gốc 30.000.000đđ, lãi 95.701.314đ.

Trong quá trình vay vốn do ông X, bà H không thực hiện đúng cam kết Hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng, Hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số LN1711080308195 ngày 05/12/2017 và Hợp đồng tín dụng số 132-P-568189 ngày 07/12/2017 đã quá hạn phân kỳ gốc, lãi kể từ ngày 19/02/2020 đến nay. Trong thời gian quá hạn Ngân hàng đã nhiều lần đến làm việc, lập biên bản yêu cầu trả nợ nhưng ông X, bà H không trả nợ được cho Ngân hàng.

Từ những phân tích trên, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bên nguyên đơn Ngân hàng V, về việc yêu cầu bị đơn ông X, bà H phải trả số tiền gốc = 67.504.739đ; tiền lãi tính đến hết ngày 19/12/2023 = 123.106.582đ; tổng cả gốc + lãi = 196.080.921đ và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả xong nợ, theo quy định tại Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự.

3.4. Xét hợp đồng thế chấp tài sản: Theo hợp đồng số LN1711080308195 ngày 24/11/2017 là Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất ở, diện tích 285m² tại địa chỉ thôn M, xã A (N là xã V), huyện S; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ936162 do UBND huyện S cấp ngày 18/7/2006 cấp cho ông Lã Văn X, bà Trần Thị H.

Trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất do ông X, bà H ký vào hợp đồng; tài sản thế chấp là yjeo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của ông X và bà H. Việc thế chấp tài sản để đảm bảo khoản vay được ký kết giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, được chủ sở hữu tài sản đồng ý thế chấp, đăng ký thế chấp và chứng thực đúng quy định, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức; Căn cứ Điều 318, 320, 323 của Bộ luật Dân sự, công nhận hợp đồng thế chấp tài sản nói trên giữa các bên là hợp pháp.

[4] Về án phí và chi phí tố tụng:

Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Lã Văn X, bà Trần Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Tiền chi phí xem xét, thẩm định hết 1.400.000đ do bên Ngân hàng đã nộp, bị đơn ông X, bà H phải chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; số tiền ông X, bà H nộp trả lại cho Ngân hàng V.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 122, Điều 131; Khoản 2 Điều 212; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 14 Thông tư 02/2015/TT-BTNMT, ngày 27/01/2015 của Bộ T; Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

2. Chấp nhận yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng V.

3. Buộc ông Lã Văn X, bà Trần Thị H phải trả cho Ngân hàng V số tiền gốc là 67.504.739đ; tiền lãi tính đến hết ngày 19/12/2023 = 123.106.582đ; tổng cả gốc + lãi = 196.080.921đ (Một trăm chín mươi sáu triệu, không trăm tám mươi nghìn, chín trăm hai mươi mốt đồng).

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Lã Văn X, bà Trần Thị H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất ông X, bà H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

4. Về tài sản thế chấp: Trường hợp ông Lã Văn X, bà Trần Thị H không trả khoản nợ cho Ngân hàng V thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất đối với thửa đất diện tích 285m² và quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với thửa đất tại địa chỉ thôn M, xã A (nay là xã V), huyện S; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ936162 do UBND huyện S cấp ngày 18/7/2006 cấp cho ông Lã Văn X, bà Trần Thị H.

5. Về án phí: Ông Lã Văn X, bà Trần Thị H phải chịu 9.804.000đ án phí DSST. Hoàn trả Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí là 3.862.000đ, đã nộp tại biên lai số 0015535 ngày 08/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.

6. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lã Văn X, bà Trần Thị H phải chịu 1.400.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do phía Ngân hàng đã tạm ứng nộp chi phí trên nên số tiền ông X, bà H nộp trả cho Ngân hàng TMCP V.

7. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai; Báo cho các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Sơn Động;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Động;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, AV.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2023/DS- ST ngày 19/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 33/2023/DS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2017 ông Lã Văn X vay Ngân hàng với 03 hoản nợ lần lượt nhưng phía bị đơn nhiều lần không trả. Nay Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải trả Tiền gốc = 67.504.739đ; tiền lãi tính đến hết ngày 19/12/2023 = 123.106.582đ; tổng cả gốc + lãi = 196.080.921đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger