TOÀ ÁN ND HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HNGĐ - ST Ngày: 18/7/2024 “V/v tranh chấp ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh
2. Ông Nguyễn Văn Hợi
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa:
Không tham gia
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm, thụ lý số: 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024, về việc “tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐ-TA ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị L, sinh năm 2001
Bị đơn: Anh Dương Văn Đ, sinh năm 2000
Cùng cư trú: xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
(Chị L và anh Đ có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà chị Hà Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Đ năm 2020 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên xảy ra cãi vã, không hoà hợp. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 18 tháng 12 năm 2023 cho tới nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng. Vì vậy, chị L đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ để hai bên có thể ổn định cuộc sống.
Về con chung: Có 01 con chung Dương Tuấn K, sinh ngày 26/12/2020.
Khi ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Chị và anh Đ sẽ tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai anh Đ trình bày: Anh Đ khai thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như chị L đã trình bày.
Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nhỏ, đến đầu năm 2024 hai vợ chồng cãi nhau chị L đã bỏ về nhà mẹ ở. Anh Đ đã có cố gắng hàn gắn vợ chồng khuyên bảo chị L nhưng chị L không về. Anh Đ xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn chị L có đơn xin ly hôn anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ.
Về con chung: Anh Đ có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung Dương Tuấn K, sinh ngày 26/12/2020 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh Đ đều vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau để giải quyết vụ án, vì vậy phải đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa ngày hôm nay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án ly hôn căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh Đ hiện đang cư trú tại huyện P, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Tại phiên tòa bị đơn anh Đ vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai nhưng anh Đ vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Đ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Đ kết hôn với nhau ngày 18/12/2020, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện đủ điều kiện được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống chị L và anh Đ đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Sau khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Chị L xác định mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng nên chị L có nguyện vọng xin được ly hôn với anh Đ.
Anh Đ xác định nguyên nhân dẫn đến việc chị L yêu cầu ly hôn với anh là do vợ chồng xảy ra những mâu thuẫn nhỏ. Hiện nay, chị L đã bỏ về nhà ngoại ở, mặc dù anh đã hoà giải để khuyên chị L quay về nhưng chị L vẫn không đồng ý. Anh Đ xác định tình cảm vẫn còn nên mong muốn vợ chồng về đoàn tụ.
Hội đồng xét xử nhận thấy thực tế trong cuộc sống vợ chồng đã xảy ra những mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Anh Đ có nguyện vọng vợ chồng về đoàn tụ nhưng trong thời gian giải quyết ly hôn tại toà án anh Đ không có biện pháp nào để vợ chồng vẫn không cải thiện tình cảm, hơn nữa anh Đ còn vắng mặt tại các phiên hoà giải của Toà án.
Tại phiên tòa chị L vẫn giữ nguyên quan điểm, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị L và anh Đ đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai nên chấp nhận đơn ly hôn của chị L, cho chị được ly hôn với anh Đ như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Có 01 con chung Dương Tuấn K, sinh ngày 26/12/2020.
Khi ly hôn, chị L và anh Đ đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Hiện cháu Dương Tuấn K đang ở với chị L đã ổn định về sinh hoạt và học tập. Chị L là công nhân của Công ty thuộc Khu công nghiệp Đ có thu nhập ổn định, mức lương từ 8 triệu đến 8,7 triệu.
Xét thấy, cần đảm bảo sự phát triển ổn định tâm sinh lý của trẻ nhỏ và điều kiện chăm sóc, giáo dục con của chị L thấy rằng khi ly hôn giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Dương Tuấn K cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Anh Đ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị L và anh Đ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị L và anh Đ tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do chị L và anh Đ không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của chị Hà Thị L, cho chị L được ly hôn anh Dương Văn Đ.
- Về con chung: Giao con Dương Tuấn K, sinh ngày 26/12/2020 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con trưởng thành (đủ 18) tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
Anh Đ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị L và anh Đ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị L và anh Đ tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Do chị L và anh Đ không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được chuyển từ tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0003735 ngày 27/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, chị L được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày tuyên án; anh Đ được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án tại địa phương.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 33/2024/HNGĐ - ST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của chị Hà Thị Ly, cho chị Ly được ly hôn anh Dương Văn Đạt
