|
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2023/HSST Ngày: 17-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
- Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Quản; ông Phạm Bá Luyến.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 17/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/TLST-HS ngày 16/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HS ngày 02/11/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu P - Sinh năm 1992, tại xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; HKTT: Thôn M, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Lê Thị M; có vợ là Hoàng Thị N và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Hữu Q – sinh ngày 07/01/2005; địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Văn H – sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị V – sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h30” ngày 23/8/2023, Nguyễn Hữu P cùng với vợ con đến nhà anh Nguyễn Đình K ở thôn M, xã B, huyện N (cách nhà P khoảng 200m) ngồi chơi uống nước đến khoảng 21h00” cùng ngày thì ra về. Do công việc riêng, anh K cũng đi ra ngoài. Ở nhà còn lại chị Nguyễn Thị V (vợ anh K) cùng cháu nhỏ và anh Nguyễn Hữu Q (là em ruột chị V) khóa cửa cổng để đi ngủ.
Sau khi về đến nhà, P nhớ lại trong lúc ngồi chơi ở nhà anh K có nhìn thấy anh Nguyễn Hữu Q sử dụng một điện thoại di động màu vàng còn mới và biết thời gian gần đây anh Q thường xuyên ngủ lại để phụ trông cháu nhỏ cùng chị V, nên P nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại nêu trên để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Thực hiện ý định của mình, đến khoảng 00h20” ngày 24/8/2023, Nguyễn Hữu P một mình đi bộ đến trước cổng nhà anh Nguyễn Đình K, nhìn vào trong thấy phòng ngủ của gia đình anh K không đóng cửa, sáng điện. Do cửa cổng khóa, P trèo qua tường rào đi vào trong sân. Khi đi đến trước cửa phòng ngủ, P quan sát thấy chị Nguyễn Thị V đang bế con nằm ngủ trên võng, còn anh Q nằm ngủ trên giường, điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng gold (bên ngoài vỏ ốp trong suốt bằng nhựa dẻo) của anh Q đang sạc pin để trên bàn trang điểm cạnh giường ngủ. Lợi dụng lúc mọi người ngủ say, P lẻn đi vào trong phòng ngủ, tiến lại gần phía bàn trang điểm, lén lút rút dây sạc, cầm chiếc điện thoại bỏ vào bên trong túi quần bên phải phía trước. Sau đó, P quay ra sân, trèo qua tường rào rồi về nhà đi ngủ.
Đến khoảng 8h00” ngày 24/8/2023, P mang chiếc điện thoại đã trộm cắp được của anh Q đến cửa hàng sửa chữa mua bán điện thoại di động Hưng Hương ở thôn Y, xã N, huyện N. Tại đây, P gặp anh Trương Văn H (là chủ cửa hàng). P nói với anh H đây là điện thoại của mình, do quên mật khẩu nên muốn bán. Sau khi kiểm tra chiếc điện thoại, anh H đồng ý mua lại với giá 2.000.000₫ (hai triệu đồng), P đồng ý. Nhận được tiền bán điện thoại, P đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết.
Về phía anh Nguyễn Hữu Q, sáng ngày 24/8/2023, sau khi ngủ dậy tìm không thấy chiếc điện thoại của mình. Nghi ngờ đã bị kẻ gian trộm cắp, anh Q đã đến trình báo sự việc tại trụ sở Công an xã B.
Nhận thức được hành vi của mình là sai và vi phạm pháp luật, chiều ngày 24/8/2023, Nguyễn Hữu P đã tự nguyện đến trụ sở công an xã B, huyện N xin tự thú và thành khân khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Qua nội dung khai báo của Nguyễn Hữu P, Công an xã B đã làm việc với anh Trương Văn H, sinh năm 1989, trú tại Y, xã N, huyện N. Sau khi biết được chiếc điện thoại mình đã mua lại của Nguyễn Hữu P vào ngày 24/8/2023 là tài sản do P trộm cắp được mà có, anh H đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng gold, dung lượng 64GB và 01 chiếc vỏ ốp điện thoại Iphone trong suốt bằng nhựa dẻo để phục vụ cho công tác điều tra, giải quyết vụ án.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện N kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng gold, dung lượng 64GB, số Imei 1: 353095104265882; số Imei 2: 353095104455152, đã qua sử dụng giá trị 4.500.000đ; 01 ốp điện thoại Iphone, trong suốt nhựa dẻo, đã qua sử dụng giá trị 10.000đ. Tổng cộng 4.510.000đ (bốn triệu năm trăm mười nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định: Anh Trương Văn H làm nghề sửa chữa mua bán điện thoại di động. Khi mua lại chiếc điện thoại của P, anh H không biết rõ nguồn gốc chiếc điện thoại là tài sản do P trộm cắp được mà có. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện N không xem xét xử lý đối với Trương Văn H là đúng quy định của pháp luật. Ngày 10/9/2023, Nguyễn Hữu P đã trả lại cho anh Trương Văn H số tiền 2.000.000₫ do bán chiếc điện thoại trộm cắp được mà có. Nhận lại số tiền trên, anh H không có yêu cầu, đề nghị gì thêm, nên miễn xét.
Ngày 06/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho anh Nguyễn Hữu Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng gold và 01 vỏ ốp điện thoại Iphone trong suốt bằng nhựa dẻo đã qua sử dụng. Sau khi nhận lại được tài sản của mình, anh Q không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì thêm.
Vật chứng còn lại: Không.
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 31/CT-VKSNS ngày 13/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 BLHS; để xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: Anh Q đã nhận lại tài sản, anh H đã nhận lại số tiền 2.000.000đ và không có yêu cầu gì thêm, nên miễn xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, về mức hình phạt đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng là chị Nguyễn Thị V (chị gái của bị hại), biết việc anh Q để chiếc điện thoại ở bàn trang điểm sạc pin nhưng không chứng kiến việc bị cáo P trộm cắp chiếc điện thoại của anh Q do lúc đó chị đang ngủ.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về tội danh:
Khoảng 00h20” ngày 24/8/2023, tại gia đình của chị Nguyễn Thị V (vợ anh K) ở thôn M, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Hữu P đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Hữu Q là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng gold, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng và 01 chiếc vỏ ốp điện thoại Iphone trong suốt bằng nhựa dẻo đã qua sử dụng. Tổng giá trị các tài sản tại thời điểm bị trộm cắp là 4.510.000đ (bốn triệu năm trăm mười nghìn đồng).
Do vậy, bị cáo P phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.
[2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Đây là vụ án Trộm cắp tài sản do một mình bị cáo Nguyễn Hữu P thực hiện, do muốn có được tiền không phải bằng sức lao động lương thiện, để tiêu xài cho bản thân nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu của công dân, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm và duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, nhất là loại tội phạm trộm cắp nên hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật hình sự.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Bị cáo là người có nhân thân tốt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra tự thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra; đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS như đã phân tích, HĐXX xét thấy cần lên cho bị cáo mức án tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo phạm phải. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng TNHS, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, cần xem xét áp dụng Điều 65 BLHS phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Nguyễn Hữu Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng gold và 01 vỏ ốp điện thoại Iphone trong suốt bằng nhựa dẻo đã qua sử dụng. Sau khi nhận lại được tài sản của mình, anh Q không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì thêm, nên miễn xét.
[6] Về các tình tiết khác có liên quan đến vụ án:
Đối với anh Trương Văn H làm nghề sửa chữa mua bán điện thoại di động. Khi mua lại chiếc điện thoại của P, anh H không biết rõ nguồn gốc chiếc điện thoại là tài sản do P trộm cắp được mà có. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện N không xem xét xử lý đối với Trương Văn H là đúng quy định của pháp luật.
Ngày 10/9/2023, Nguyễn Hữu P đã trả lại cho anh Trương Văn H số tiền 2.000.000₫ do bán chiếc điện thoại trộm cắp được mà có. Nhận lại số tiền trên, anh H không có yêu cầu, đề nghị gì thêm, nên miễn xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 BLHS.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu P 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo..
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hữu P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 BLTTHS: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 33/2023/HSST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 33/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu P phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS
