|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/DS-ST Ngày 17 tháng 5 năm 2024 V/v “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia di thừa kế vô hiệu” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Bảng.
- Bà Hoàng Thị Hồng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Minh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 17/5/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 21/2023/TLST-DS ngày 12/01/2023 về việc: “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia di thừa kế vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-DS ngày 02/4/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 415/TB-TA ngày 19/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2023/QĐST-DS ngày 02/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST-DS ngày 07/5/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Chị Mai Thị L, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Mai Thị H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Mai Văn Q, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Mai Hồng K, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của chị L, chị H, anh K là anh Mai Văn Q, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Theo Giấy uỷ quyền ngày 22/6/2023).
(Anh Q có mặt)
2. Bị đơn: Anh Mai Văn M, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Anh M vắng mặt)
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- UBND huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- UBND thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lương Ngọc K1 - Chức vụ: Phó chủ tịch (Theo Quyết định uỷ quyền tham gia tố tụng vụ án dân sự số 100/QĐ-UBND ngày 09/5/2023).
(Ông K1 vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Phòng Thị N - Chức vụ: Trưởng phòng TN&MT huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Theo Văn bản uỷ quyền tham gia tố tụng số 862/UBND-NC ngày 25/4/2023).
(Bà N vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh T - Chức vụ: Phó phòng TN&MT thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Theo Quyết định uỷ quyền tham gia tố tụng vụ án dân sự số 1292/QĐ-UBND ngày 04/04/2023).
(Ông T vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Trần Thị L1 - Chức vụ: Chấp hành viên. (Theo Văn bản uỷ quyền tham gia tố tụng số 279/TB-THADS ngày 14/03/2023)
(Bà L1 có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Mai Thị H, chị Mai Thị L, anh Mai Hồng K, anh Mai Văn Q (do anh Mai Văn Q là người đại diện theo ủy quyền của tham gia tố tụng) thống trình bày:
Bố mẹ anh là ông Mai Văn D (sinh năm 1952, mất năm 2003) và bà Hoàng Thị L2 (sinh năm 1952, mất năm 2004) khi còn sống có một thửa đất diện tích khoảng 388m² tại địa chỉ thửa đất số 387, tờ bản đồ số 14 tại thôn T, xã T, thành phố B. Ngày 02/11/2005, thửa đất trên mới được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 155235 mang tên mẹ tôi Hoàng Thị L2. Thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 387 thì mẹ anh đã mất nhưng mẹ anh đã làm đơn đề nghị cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 387 từ trước khi mẹ anh mất một thời gian (thời điểm đó UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho rất nhiều hộ trong thôn chứ không riêng gì nhà anh nên thời gian được nhận giấy rất lâu). Đối với việc UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên mẹ anh Hoàng Thị L2, anh không có ý kiến gì.
Khi mẹ anh còn sống, mẹ anh sống cùng anh Mai Văn M tại thửa đất trên. Năm 2004, mẹ anh mất đột ngột, không để lại di chúc. Do khi còn sống, mẹ anh ở cùng anh M nên các anh chị chỉ nghĩ các giấy tờ quan trọng là do anh M giữ. Mẹ anh chưa khi nào dặn dò các con rằng sau khi bà mất thì sẽ giao quyền sử dụng đất của thửa đất số 387 trên cho ai. Sau khi mẹ anh mất, anh chị em anh cũng chưa khi nào họp bàn về việc phân chia di sản thừa kế là quyền sử sử dụng đất của thửa đất số 387.
Đến đầu năm 2022, anh và chị H, chị L, anh K mới biết anh M đã được chỉnh lý sang tên tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 155235 từ năm 2009. Từ năm 2009 đến nay, chưa khi nào anh M thông báo hay hỏi ý kiến các anh chị em trong gia đình về việc anh M đã được sang tên tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 387.
Đối với kết quả trưng cầu giám định chữ ký mà Tòa án thông báo, anh không có ý kiến gì. Anh và các đồng nguyên đơn (Mai Thị L, Mai Thị H, Mai Hồng K) giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T vô hiệu và không yêu cầu giải quyết về hậu quả của văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 trên vô hiệu.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Mai Văn M trình bày:
Thửa đất số 387, tờ bản đồ số 14, diện tích 388m² tại địa chỉ thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang có nguồn gốc là 1 phần đất của bố mẹ anh là ông Mai Văn D và bà Hoàng Thị L2 khai hoang mà có được và một phần đất là do ông bà nội anh chia cho bố mẹ anh khi bố mẹ anh ra ở riêng vào khoảng năm 1978. Bố mẹ anh có 5 người con là Mai Thị L, sinh năm 1978; Mai Thị H, sinh năm 1982; Mai Văn Q, sinh năm 1984; Mai Hồng K, sinh năm 1987; và anh (Mai Văn M), sinh năm 1980. Cả 5 anh chị em anh đều sinh sống trên thửa đất trên cùng bố mẹ anh cho đến khi chị L, chị H, anh Q, anh K trưởng thành, lập gia đình và ra ở riêng. Chỉ có anh là con trai trưởng nên ở lại đất trên. Quá trình chung sống, bố mẹ anh có xây được một ngôi nhà cấp 4 (4 gian) và 1 nhà bếp.
Năm 1995, bố anh mất. Ngày 10/12/2004, mẹ anh mất. Ngày 02/11/2005, UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đối với thửa đất số 387, tờ bản đồ số 14, diện tích 388m² cho mẹ anh. Thời điểm cấp giấy, mẹ anh đã mất nhưng theo mẹ anh đã làm thủ tục kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ trước năm 2004. Mẹ anh bị đột quỵ nên mất cũng đột ngột. Sau khi mẹ anh mất, toàn bộ nhà đất trên do 1 mình anh quản lý, sử dụng. Toàn bộ tài sản trên đất vẫn được giữ nguyên kể từ khi bố mẹ anh xây dựng, anh không xây dựng thêm công trình gì mới.
Năm 2009, do anh làm ăn kinh tế thất bại, muốn vay tiền Ngân hàng để trả nợ nên đã nhờ 1 người quen ở UBND huyện Y hướng dẫn thủ tục. Sau đó, anh tự lập các biên bản phân chia di sản thừa kế, biên bản họp gia đình, tự ký tên vào tất cả các biên bản đó và nộp hồ sơ tại UBND huyện để đề nghị sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh. Tất cả các chữ ký “Q-Mai Văn Q”, “H-Mai Thị H”, “Lành-Mai Thị L”, “K-Mai Hồng Kỳ” tại các biên bản phân chia di sản thừa kế, biên bản họp gia đình là do anh tự ký. Các anh chị em trong gia đình anh chưa khi nào ký các văn bản trên. Khi anh tự ký tên vào các văn bản trên, anh không hỏi ý kiến hay thông báo gì cho các anh chị em trong gia đình. Sau khi hoàn thiện các thủ tục và nộp hồ sơ tại UBND huyện Y, đến ngày 24/3/2009 thì được chỉnh lý biên động tại mục VI của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác định anh là chủ sử dụng của thửa đất số 387, tờ bản đồ số 14 tại thôn T, xã T, thành phố B (theo văn bản phân chia thừa kế số 186/2009).
Từ sau khi được chỉnh lý biến động tại mục VI của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh chưa khi nào thông báo hay hỏi ý kiến gì đối với anh Q, anh K, chị H, chị L. Mãi đến đầu năm 2022, anh Q, chị H, chị L, anh K mới biết anh đã được chỉnh lý sang tên tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi anh được sang tên tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh có nhiều lần đi thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền, không thông báo gì cho các anh em trong gia đình.
Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, anh nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp nếu Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T vô hiệu, anh không yêu cầu giải quyết về hậu quả của văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 trên vô hiệu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND thành phố B trình bày:
Bà Hoàng Thị L2 được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD155235 ngày 02/11/2005 tại thửa đất số 387, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thôn T, xã T, huyện Y (nay là thành phố B). Sau khi hộ gia đình thực hiện việc phân chia sản thừa kế, UBND huyện Y thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Mai Văn M (nhận quyền sử dụng đất theo Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009). Theo hồ sơ Chi nhánh Văn phòng Đ1 thu thập không đầy đủ thông tin do đó không có đủ cơ sở thể hiện quan điểm về vụ việc. Tuy nhiên bà Mai Thị L, bà Mai Thị H, ông Mai Văn Q, ông Mai Hồng K đều ký vào văn bản phân chia tài sản thừa kế nên đề nghị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xem xét, giải quyết vụ án theo quy định.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND huyện Y trình bày:
UBND huyện Y đã yêu cầu Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y - Là đơn vị quản lý và lưu trữ hồ sơ đất đai trên địa bàn huyện, tra cứu tài liệu lưu trữ tại cơ quan và Phòng lưu trữ của UBND huyện. Tuy nhiên, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y trả lời không tìm được hồ sơ cấp giấy chứng nhận có liên quan đến thửa đất, vụ việc trên do xã T, thành phố B (trước năm 2011 là huyện Y) đã được bàn giao sáp nhập về thành phố B từ ngày 01/01/2011, các tài liệu về đất đai liên quan đến xã T lưu trữ tại huyện Y đã bàn giao hết cho UBND thành phố B, nay huyện không còn lưu trữ. Do không còn tài liệu nên không có cơ sở thể hiện quan điểm cũng như cung cấp các tài liệu chứng cứ. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang căn cứ vào nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, thời điểm sử dụng đất và các quy định có liên quan để giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã T trình bày:
Hiện nay UBND xã không còn lưu giữ được số chứng thực và hồ sơ chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất năm 2009. Tại thời điểm năm 2009, ông Phạm Văn G là Phó Chủ tịch UBND xã T. Tuy nhiên, hiện nay ông G đã nghỉ hưu theo chế độ của Nhà nước. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị L, bà Mai Thị H, ông Mai Văn Q, ông Mai Hồng K về việc yêu cầu Toà án tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T vô hiệu, đề nghị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xác minh và giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang trình bày:
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang tổ chức thi hành Bản án số 71/2021/DSST ngày 11/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang; Bản án số 134/2021/DSPT ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; Căn cứ Quyết định thi hành án số 302, số 303/QĐ-CCTHADS cùng ngày 19/01/2022; Người phải thi hành án là anh Mai Văn M, sinh năm 1980, địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; phải thi hành khoản án phí DSST 36.780.750 đồng; phải thanh toán trả bà Trần Thị Đ, sinh năm 1957, địa chỉ: thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang số tiền 826.025.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án.
Ngày 19/01/2022, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang đã ra quyết định thi hành án và thông báo hợp lệ quyết định thi hành án cho anh Mai Văn M. Đến ngày 21/01/2022, anh Mai Văn M làm hợp đồng tặng cho em trai Mai Văn Q tài sản Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất 387, diện tích 388 m², tờ bản đồ số 14, địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Ngày 21/01/2022, anh Mai Văn Q đã nộp hồ sơ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1 để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng. Theo cung cấp của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1, chi nhánh đã xác nhận biến động chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho anh Mai Văn Q chỉnh lý ở trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hẹn trả kết quả cho ông Mai Văn Q vào ngày 11/02/2022. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang đã thông báo để Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1; Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố B phối hợp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản nêu trên và chưa thực hiện việc trả kết quả cho anh Mai Văn Q để Chi cục thi hành dân án dân sự thành phố B thực hiện xử lý việc thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.
Ngày 18/02/2022 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang đã ra thông báo số 128/TB-CCTHADS cho bà Trần Thị Đ (là người được thi hành án) biết quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng tặng cho giữa anh Mai Văn M và anh Mai Văn Q vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đối với tài sản. Bà Đ đã khởi kiện tại Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang. Tại Bản án số 38/2022/DSST ngày 25/8/2022, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đã tuyên bố hợp đồng tặng cho giữa anh Mai Văn M và anh Mai Văn Q vô hiệu.
Sau khi Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang tuyên bố hợp đồng tặng cho giữa anh Mai Văn M và anh Mai Văn Q vô hiệu, anh Mai Văn Q, chị Mai Thị H, chị Mai Thị L và anh Mai Hồng K tiếp tục khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang yêu cầu tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T vô hiệu.
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang nhận thấy Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T có hiệu lực pháp luật nên đề nghị Toà án không chấp nhận yêu của khởi kiện của nguyên đơn.
*Quá trình giải quyết vụ án, ngày 20/4/2023, Tòa án đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chữ viết, chữ ký “Q-Mai Văn Q; K-Mai Hồng K” trong “Biên họp gia đình ngày 20/3/2020; Văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 20/3/2020”. Tại Kết luận giám định số 968/KL-KTHS ngày 30/05/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
- - Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “Q-Mai Văn Q” dưới các mục “Em” “Những người thừa kế” trên các tài liệu cần giám định (B họp gia đình ngày 20/3/2020; Văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 20/3/2020) so với chữ ký, chữ viết của Mai Văn Q trên các tài liệu mẫu không phải do cùng một người ký, viết ra.
- - Chữ viết có nội dung “Mai Hồng Kỳ” dưới các mục “Em” “Những người thừa kế” trên các tài liệu cần giám định (B họp gia đình ngày 20/3/2020; Văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 20/3/2020) so với chữ viết của Mai Hồng K trên các tài liệu mẫu không phải do cùng một người viết ra.
*Tại Biên bản làm việc ngày 06/5/2024, ông Phạm Văn G - nguyên Phó Chủ tịch UBND xã T cung cấp: Ông đã được xem Lời chứng của Phó Chủ tịch UBND xã T (bút lục số 75) trong hồ sơ vụ án. Ông xác nhận đúng là chữ chữ ký của ông. Tuy nhiên do thời gian đã lâu nên ông không thể nhớ ai là người trình ký văn bản này, ai là người soạn thảo lời chứng để ông ký và và lời chứng này chứng thực cho văn bản nào.
*Tại Biên bản xác minh ngày 17/5/2024, ông Hoàng Văn S - Công chức tư pháp hộ tịch UBND xã Tân Mỹ cung cấp: Những người thuộc hành thừa kế thứ nhất của Hoàng Thị L2 - sinh năm 1952, mất năm 2004 gồm có: chị Mai Thị L, chị Mai Thị H, anh Mai Văn Q, anh Mai Hồng K, anh Mai Văn M - Là các con bà L2. Bố mẹ bà Lụa là ông Hoàng Văn Q1 (sinh năm 1926, chết năm 1952) và bà Lê Thị C (sinh năm 1924, chết năm 1995) đều chết trước bà L2. Chồng bà Lụa là ông Mai Văn D (sinh năm 1952, mất năm 2003). Ngoài ra không còn ai khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà L2.
*Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
*Tại phiên tòa ngày 07/07/2023, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.
*Ngày 10/7/2023, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang có Văn bản đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang chuyển vụ án sang Cơ quan cảnh sát điều tra do anh Mai Văn M giả mạo chữ ký để được sang tên tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó nhiều lần mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thế chấp để vay tiền tại Ngân hàng là có dấu hiệu của tội phạm hình sự.
*Ngày 12/7/2023, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã có Công văn số 720/TA đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B điều tra, xem xét dấu hiệu hình sự đối với hành vi giả mạo chữ ký của anh Mai Văn M tại Văn bản phân chia tài sản thừa kế được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T để được sang tên tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 387, sau đó anh M nhiều lần mang thửa đất trên đi thế chấp, vay tiền Ngân hàng.
*Tại phiên tòa ngày 17/07/2023, Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa để xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ là kết quả giải quyết của Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B đối với Công văn số 720/TA ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
*Tại phiên tòa ngày 17/08/2023, Hội đồng xét xử quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án để đợi kết quả giải quyết của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đối với Công văn số 720/TA ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
*Ngày 02/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã gửi Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 181/QĐ-ĐTTH ngày 20/11/2023 và một tài liệu kèm theo cho Toà án.
*Ngày 06/02/2024, Toà án tiếp tục giải quyết vụ án.
*Tại phiên toà ngày 02/05/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.
*Tại phiên toà ngày 07/05/2024, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.
*Tại phiên toà ngày 17/05/2024: bị đơn anh Mai Văn M, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND thành phố B, UBND huyện Y, UBND xã T vắng mặt.
Nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Mai Văn Q giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T vô hiệu và không yêu cầu giải quyết về hậu quả của văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 trên vô hiệu. Đối với các kết quả trưng cầu giám định chữ ký trong hồ sơ vụ án, anh không có ý kiến gì và không đề nghị trưng cầu giám định chữ ký lại tại Cơ quán giám định khác.
Người diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu:
- - Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cơ bản chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Mai Văn Q, chị Mai Thị H, anh Mai Hồng K, chị Mai Thị L về việc tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T vô hiệu.
- - Về chi phí giám định: Anh Mai Văn M phải chịu toàn bộ 3.240.000 đồng chi phí giám định.
- - Về án phí: Anh Mai Văn M phải chịu toàn bộ án phí DSST
- - Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn anh Mai Văn M vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND thành phố B, UBND huyện Y, UBND xã T xin vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đảm bảo qui định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T vô hiệu. Do vậy, cần xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia di thừa kế vô hiệu” theo quy định tại khoản 14 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[4.1] Về hình thức: Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T là đảm bảo quy định về hình thức Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo quy định tại tại khoản 2 Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005.
[4.2] Về nội dung:
Ngày 06/7/2004, bà Hoàng Thị L2 có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 387, tờ bản đồ số 14, diện tích 388m² tại địa chỉ thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Ngày 02/11/2005 được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD155235, diện tích 388m², người sử dụng đất: bà Hoàng Thị L2.
Ngày 10/12/2004, bà L2 chết. Ngày 24/3/2009, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y đã xác nhận chỉnh lý biến động tại mục VI của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD155235 như sau: Ông Mai Văn M, sinh năm 1980, số CMND [...], địa chỉ thường trú: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhận quyền sử dụng đất theo Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế số 186/2009.
Tại Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 thể hiện nội dung: “Chúng tôi gồm có Mai Thị L, Mai Thị H, Mai Văn Q, Mai Hồng K – là con gái, con trai ruột của bà Hoàng Thị L2. Chúng tôi là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Hoàng Thị L2 và ông Mai Văn D chết ngày 12/12/2003. Chúng tôi thỏa thuận về việc phân chia di sản thừa kế của bà Hoàng Thị L2 để lại như sau: Quyền sử dụng đất tại thừa đất số 387, tờ bản đồ số 14, diện tích 388m², mục đích sử dụng: đất ở đã được UBND huyện yên Dũng cấp ngày 02/11//2005, số giấy CNQSDĐ AD155235, số vào sổ H00946. Ông Mai Văn M là con trai thứ nhất được toàn quyền sử dụng tất cả tài sản trên...”. Văn bản có đầy đủ chữ ký của chị L, chị H, anh Q, anh M, anh K.
Ngày 20/4/2023, Toà án đã có quyết định trưng cầu giám định chữ ký “Q-Mai Văn Q; K-Mai Hồng K” trong “Biên họp gia đình ngày 20/3/20209; Văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 20/3/2009”. Kết quả: chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “Q-Mai Văn Q” trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Mai Văn Q trên các tài liệu mẫu không phải do cùng một người viết ra. Chữ viết có nội dung “Mai Hồng Kỳ” trên các tài liệu cần giám định so với chữ viết của Mai Hồng K trên các tài liệu mẫu không phải do cùng một người viết ra. Không kết luật chữ ký mang tên Mai Hồng K trên các tài liệu cần giám định so với chữ viết của Mai Hồng K trên các tài liệu mẫu do chữ ký cần giám định và chữ ký mẫu so sánh khác dạng nhau.
Tại Kết luận giám định số 2169/KL-KTHS ngày 08/11/2023 trong Tài liệu hồ sơ do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B cung cấp: Phòng K2 không kết luật giám định chữ ký Mai Thị H, Mai Thị L trên tài liệu giám định so với chữ viết của Mai Thị H, Mai Thị L trên các tài liệu mẫu do không có mẫu so sánh cùng dạng.
Anh Q, chị H, chị L, anh K đều trình bày chưa bao giờ được thông báo hay ký vào Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế số 186/2009. Bị đơn anh M thừa nhận tất cả các chữ ký “Q-Mai Văn Q”, “H-Mai Thị H”, “Lành-Mai Thị L”, “K-Mai Hồng Kỳ” tại các Văn bản phân chia tài sản thừa kế, biên bản họp gia đình là do anh tự ký. Khi anh tự ký tên vào các văn bản trên, anh không hỏi ý kiến hay thông báo gì cho các anh chị em trong gia đình anh.
Do vậy, có cơ sở chấp nhận lời trình bày của anh Q, anh K, chị H, chị L về việc không ký vào Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế số 186/2009. Căn cứ Điều 128 Bộ luật dân sự 2005, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T vô hiệu.
Tại mục II.2 công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thì theo Điều 195 của Luật đất đai, điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chuyển quyền dựa trên cơ sở của hợp đồng, văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì xác nhận nội dung biến động vào giấy chứng nhận đã cấp hoặc lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc xác nhận biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu, nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác nhận nội dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu thì văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên và môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Do Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T vô hiệu, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1 và Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố B căn cứ vào Bản án của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để điều chỉnh biến động phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Về hậu quả của Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 vô hiệu: Toà án đã giải thích về quyền yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nhưng các đương sự đều không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí giám định là 3.240.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ số tiền này. Căn cứ Điều 159, Điều 160, Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí giám định do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại số tiền chi phí giám định khi bị đơn nộp lại.
[6] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 3 Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 681, Điều 128 Bộ luật dân sự 2005;
Áp dụng khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 159, Điều 160, Điều 161, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 144, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Mai Văn Q, chị Mai Thị H, anh Mai Hồng K, chị Mai Thị L về việc tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 186/2009 được chứng thực ngày 20/3/2009 tại UBND xã T vô hiệu.
- Về án phí: Anh Mai Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Mai Văn Q số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002017 ngày 09/01/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Hoàn trả anh Mai Hồng K số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002016 ngày 09/01/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Hoàn trả chị Mai Thị H số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002015 ngày 09/01/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Hoàn trả chị Mai Thị L số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002014 ngày 09/01/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về chi phí tố tụng: Anh Mai Văn M phải chịu 3.240.000 đồng chi phí giám định. Nguyên đơn được nhận lại số tiền 3.240.000 đồng khi anh M nộp.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia di thừa kế vô hiệu
- Số bản án: 33/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia di thừa kế vô hiệu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Thị L - Mai Văn M Tranh chấp VB phân chia di sản thừa kế
