Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 17/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thanh Nga

2. Bà Đinh Kim Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Sinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/HSST ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXX ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Thanh T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/02/1987 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 322/12/5 N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 2 Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Cha: Phạm Văn T1 – không rõ năm sinh. Mẹ: Tống Kim H – không rõ năm sinh. Anh, chị, em ruột: Không có. Vợ: Lê Thị Xuân T2, sinh năm: 1989. Con: Có 05 người, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam C.

2. Họ và tên: Nguyễn Thanh P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 25/10/1999; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B (số mới: 874/12) Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Cha: Nguyễn Thanh T3, sinh năm: 1972. Mẹ: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1973. Anh, chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất không rõ năm sinh. Vợ: Nguyễn Thị Tuyết T4, sinh năm: 2002. Con: Không.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Năm 2021, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 01/10/2021.

Biện pháp ngăn chặn: Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam C.

3. Họ và tên: Nguyễn Duy K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/4/1996; Tại: tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2 H, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Cha: Nguyễn Duy P1, không rõ năm sinh. Mẹ: Phạm Thị Kim O, sinh năm: 1961. Anh, chị, em ruột: Có 02 người, không rõ năm sinh. Vợ, con: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn: Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam C.

Những người tham gia tố tụng:

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 1/ Bà Nguyễn Thị Kim L (mẹ của P)
  • Địa chỉ: B Đ, Phường A, Quận D, TP
  • 2/ Bà Phạm Thị Kim O (mẹ của K)
  • Địa chỉ: C H, Phường F, Quận D, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 24/7/2023 Công an Q tiến hành tuần tra trên địa bàn Quận D, phát hiện các vụ tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, cụ thể:

Vụ thứ 1: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/7/2023, Nguyễn Thanh P điều khiển xe đạp hiệu Martin 107, màu đen đi đến nhà số: 2 Đ, Phường A, Quận D tìm Phạm Thanh T mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi, P gặp Phạm Thanh T đang ở trên gác nên hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. T đứng trên gác ném xuống 01 gói nylon chứa ma túy, P lấy gói nylon chứa ma túy cầm trên tay trái, lấy 200.000 đồng để trên nền nhà rồi đạp xe về. Khi P đi đến trước nhà số: G Đ, Phường A, Quận D, thì bị Công an Q nghi vấn, kiểm tra. Qua kiểm tra Công an Q phát hiện P đang cầm trên tay 01 gói nylon chứa tinh thể không màu nghi vấn là ma túy nên đã đưa về Công an Phường 16, Quận D lập biên bản Tạm giữ và Biên bản phạm tội bắt quả tang (BL: 79 đến 82). Xét nghiệm ma túy, Nguyễn Thanh P dương tính với ma túy (BL: 78)

Tại Kết luận giám định số: 8106/KL – KTHS ngày 01/8/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận (BL: 86): Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P2, Quận D là ma túy ở thể rắn, khối lượng: 0,1593 gam, loại Methamphetamine.

Vụ thứ 2: Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 24/7/2023, Nguyễn Duy K điều khiển xe gắn máy màu đen, hiệu Honda Airblade, biển số: 59C – 943.71 đi đến nhà số: 2 Đ, Phường A, Quận D tìm Phạm Thanh T để mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, K thấy Phạm Thanh T đang ở trên gác nên hỏi mua 150.000 đồng ma túy đá. T ném xuống đất 01 gói nylon bên trong có chứa ma túy đá. K cất giấu gói ma túy vào túi quần bên trái, để lại 150.000 đồng trên nền nhà rồi điều khiển xe về nhà. Khi Nguyễn Duy K đi đến trước nhà số: F Xóm C, Phường A, Quận D, thì bị Công an Q nghi vấn nên kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an Q phát hiện K đang cất giấu trong túi quần bên trái 01 gói nylon chứa tinh thể không màu nghi vấn là ma túy nên đã đưa về Công an Phường 13, Quận D lập biên bản tạm giữ và Biên bản phạm tội quả tang (BL: 119 đến 124).

Tại Kết luận giám định số: 8105/KL – KHTS ngày 01/8/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận (BL: 127): Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Duy K, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P3, Quận D là ma túy ở thể rắn, khối lượng: 0,2015 gam, loại Methamphetamine.

Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu giữ đã phát hiện: khoảng 13 giờ ngày 24/7/2023 Công an Q khám xét khẩn cấp nhà của Phạm Thanh T tại số: 2 Đ, Phường A, Quận D. Công an Q thu giữ được 06 gói nylon chứa tinh thể không màu nghi vấn là ma túy, 01 cân điện tử và một số vật dụng dùng để đựng ma túy (BL: 162 đến 165).

Tại Kết luận giám định số: 8104/KL – KTHS ngày 01/8/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận (BL: 168): Tinh thể không màu trong 06 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm Thanh T, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P3, Quận D, là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng: 1,4515 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Công an Q xác định: Vào khoảng tháng 5 năm 2023, Phạm Thanh T bắt đầu hoạt động mua bán trái phép chất ma túy. T liên lạc với đối tượng tên “M” không rõ lai lịch có số điện thoại 0764.044.xxx để mua ma túy. Từ thời gian tháng 5 năm 2023 đến ngày 24/7/2023, T nhiều lần mua ma túy của “M” đem về nhà chia thành nhiều gói nhỏ để bán cho người khác. Tối ngày 23/7/2023, Phạm Thanh T tiếp tục mua ma túy của “M” 600.000 đồng ma túy đá, đem về nhà chia thành nhiều gói nhỏ để bán cho người khác. Ngày 24/7/2023, Phạm Thanh T đã bán cho Nguyễn Thanh P 01 gói ma túy với giá: 200.000 đồng, bán cho Nguyễn Duy K 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng. Số ma túy còn lại Phạm Thanh T chưa bán được cho ai thì bị Công an Q khám xét thu giữ. Quá trình mua bán trái phép chất ma túy, Phạm Thanh T thu lợi bất chính khoảng 10.000.000 đồng (BL: 184 đến 190).

Đối với đối tượng tên “M” là người bán ma túy cho Phạm Thanh T có số điện thoại 0764.044.xxx, Cơ quan điều tra có văn bản xác minh tại Tổng công ty V nhưng không có kết quả. Ngoài ra Công an Q xác minh đối tượng “Minh” tại khu vực Phường D, Phường E, Quận H là nơi Phạm Thanh T và “Minh” mua bán ma túy, kết quả không xác minh được đối tượng, nên không có cơ sở xử lý (BL: 155 đến 159).

Đối với Lê Thị Xuân T2, Lê Thị Bích L1Nguyễn Văn T6 là những người đang sinh sống tại nhà số: 2 Đ, Phường A, Quận D, quá trình điều tra Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của Phạm Thanh T, nên không có cơ sở để xử lý.

Vật chứng và vật hiện đang tạm giữ:

  • Số tiền: 1.150.000 đồng là tiền của Phạm Thanh T tiêu xài cá nhân không liên quan đến vụ án. Công an Q đã gửi kho bạc nhà nước.
  • 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm Thanh T, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P3, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P2, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Duy K, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P3, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • 01 bịch nylon màu xanh, nhiều gói nylon không chứa gì, 03 đoạn ống nhựa không chứa gì, 01 cân điện tử.
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300, số I: 3569441104400478, đã qua sử dụng. Phạm Thanh T sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.
  • 01 điện thoại di động hiệu S màu đen, số Imei: 355228082682079, có gắn sim số: 0766532436, bên ngoài gắn ốp lưng màu xanh là tài sản của Nguyễn Thanh P không liên quan đến vụ án.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A96 5G màu đen, đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của Nguyễn Duy K, không liên quan đến vụ án.
  • 01 xe đạp hiệu Martin 107, màu đen đã qua sử dụng. Nguyễn Thanh P mượn xe này của mẹ là Nguyễn Thị Kim L để đi công việc, bà L không biết việc P sử dụng xe này để đi mua ma túy.
  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu đen, biển số: 59C1 – 943.71, số khung: RLHJF6315HZ032508, số máy: JF63E – 2193245. Nguyễn Duy K mượn xe này của mẹ là Phạm Thị Kim O để đi chợ, bà O không biết việc K sử dụng xe này để đi mua ma túy.

Tại Bản cáo trạng số 15/CT-VKSQ4 ngày 16/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Nguyễn Thanh PNguyễn Duy K về tội: “Tàng trữ trái pháp chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Truy tố Phạm Thanh T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo có lời khai phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời, bản thân các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, nên xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đề nghị tuyên phạt:

  • Phạm Thanh T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước. Tịch thu số tiền thu lợi bất chính 10.000.000 (Mười triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước
  • Tuyên phạt: Nguyễn Thanh P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • Tuyên phạt: Nguyễn Duy K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

  • Trả lại cho Phạm Thanh T số tiền: 1.150.000 đồng là tiền của T tiêu xài cá nhân không liên quan đến vụ án. Công an Q đã gửi kho bạc nhà nước.
  • 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm Thanh T, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P3, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P2, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Duy K, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P3, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • 01 bịch nylon màu xanh, nhiều gói nylon không chứa gì, 03 đoạn ống nhựa không chứa gì, 01 cân điện tử.
  • Tịch thu của Phạm Thanh T 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300, số I: 3569441104400478, đã qua sử dụng do Phạm Thanh T sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.
  • Trả lại cho Nguyễn Thanh P 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei: 355228082682079, có gắn sim số: 0766532436, bên ngoài gắn ốp lưng màu xanh là tài sản của Nguyễn Thanh P không liên quan đến vụ án.
  • Trả lại cho Nguyễn Duy K 01 điện thoại di động hiệu Oppo A96 5G màu đen, đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của Nguyễn Duy K không liên quan đến vụ án.
  • Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim L 01 xe đạp hiệu Martin 107, màu đen đã qua sử dụng. Nguyễn Thanh P mượn xe này của mẹ là Nguyễn Thị Kim L để đi công việc, bà L không biết việc P sử dụng xe này để đi mua ma túy.
  • Trả lại cho bà Phạm Thị Kim O 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu đen, biển số: 59C1 – 943.71, số khung RLHJF6315HZ032508, số máy: JF63E – 2193245. Nguyễn Duy K mượn xe này của mẹ là Phạm Thị Kim O để đi chợ, bà O không biết việc K sử dụng xe này để đi mua ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của các bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Trong thời gian từ tháng 5 năm 2023 đến ngày 24/7/2023, tại nhà số: 2 Đ, Phường A, Quận D, Phạm Thanh T đã bán cho Nguyễn Thanh P 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,1593 gam, với giá 200.000 đồng, bán cho Nguyễn Duy K 01 gói ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng: 1,2015 gam, với giá 150.000 đồng. Phạm Thanh TNguyễn Duy K mua ma túy cất giữ nhằm mục đích sử dụng, nên đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với Phạm Thanh T có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Thanh PNguyễn Duy K vào ngày 24/7/2023, với khối lượng 0,3608 gam, loại Methamphetamine và cất giữ 06 gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 1,4515 gam (bị phát hiện lúc 17 giờ 25 phút ngày 24/7/2023), nhằm mục đích để bán cho người khác hưởng lợi, nên đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét hành vi của bị cáo Phạm Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên”, được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 là có căn cứ.

[3] Xét hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện phạm tội nhằm mục đích kiếm tiền. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên khi lượng hình cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng, tịch thu số tiền thu lợi bất chính 10.000.000 (Mười triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước đối với bị cáo Phạm Thanh T theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh PNguyễn Duy K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của các bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang và kết luận giám định có đủ cơ sở để xác định hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh PNguyễn Duy K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
  • Trả lại cho Phạm Thanh T số tiền: 1.150.000 đồng là tiền của T tiêu xài cá nhân không liên quan đến vụ án. Công an Q đã gửi kho bạc nhà nước.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm Thanh T, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P3, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P2, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Duy K, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P3, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 bịch nylon màu xanh, nhiều gói nylon không chứa gì, 03 đoạn ống nhựa không chứa gì, 01 cân điện tử.
  • Tịch thu của Phạm Thanh T 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300, số I: 3569441104400478, đã qua sử dụng.
  • Trả lại cho Nguyễn Thanh P 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei: 355228082682079, có gắn sim số: 0766532436, bên ngoài gắn ốp lưng màu xanh.
  • Trả lại cho Nguyễn Duy K 01 điện thoại di động hiệu Oppo A96 5G màu đen, đã qua sử dụng.
  • Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim L 01 xe đạp hiệu Martin 107, màu đen đã qua sử dụng. Nguyễn Thanh P mượn xe này của mẹ là Nguyễn Thị Kim L để đi công việc, bà L không biết việc P sử dụng xe này để đi mua ma túy.
  • Trả lại cho bà Phạm Thị Kim O 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu đen, biển số: 59C1 – 943.71, số khung RLHJF6315HZ032508, số máy: JF63E – 2193245. Nguyễn Duy K mượn xe này của mẹ là Phạm Thị Kim O để đi chợ, bà O không biết việc K sử dụng xe này để đi mua ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Phạm Thanh T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2023.

Phạt bị cáo 10.000.000 (Mười triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Tịch thu số tiền thu lợi bất chính 10.000.000 (Mười triệu) đồng của bị cáo nộp ngân sách Nhà nước

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Nguyễn Thanh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Nguyễn Duy K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

  • - Trả lại cho Phạm Thanh T số tiền: 1.150.000 đồng là tiền của T tiêu xài cá nhân không liên quan đến vụ án. Công an Q đã gửi kho bạc nhà nước. Giấy nộp tiền (1.150.000 đồng) vô Kho bạc nhà nước (Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh 04) của Công an Q ngày 17/4/2024.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm Thanh T, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P3, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P2, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Duy K, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P3, Quận D bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bịch nylon màu xanh, nhiều gói nylon không chứa gì, 03 đoạn ống nhựa không chứa gì, 01 cân điện tử.
  • - Tịch thu của Phạm Thanh T 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300, số I: 3569441104400478, đã qua sử dụng.
  • - Trả lại cho Nguyễn Thanh P 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei: 355228082682079, có gắn sim số: 0766532436, bên ngoài gắn ốp lưng màu xanh.
  • - Trả lại cho Nguyễn Duy K 01 điện thoại di động hiệu Oppo A96 5G màu đen, đã qua sử dụng.
  • - Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim L 01 xe đạp hiệu Martin 107, màu đen đã qua sử dụng.
  • - Trả lại cho bà Phạm Thị Kim O 01 xe gắn máy hiệu Airblade màu đen, biển số: 59C1 – 943.71, số khung RLHJF6315HZ032508, số máy: JF63E – 2193245.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo: Phạm Thanh T, Nguyễn Thanh PNguyễn Duy K mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

2. Về quyền kháng cáo: các bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng
  • - CATP.HCM(PV06);
  • - TAND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - VKSND Quận 4;
  • - Công An Quận 4;
  • - Chi cục THADS Quận 4;
  • - Lưu VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Tấn Phát

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger