Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/4/2024

V/v: “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba.

Ông Lưu Đức Chung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên

tòa: Ông Lê Viết Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai vụ án thụ lý số 68/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Linh T, sinh năm: 1998 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ E, ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Hoàng Quang T1, sinh năm: 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số B, tổ F, ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Linh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Quang T1 tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia đình vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/02/2022. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 03 - 04 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh T1 sử dụng ma túy đã không chịu đi làm để lo cho kinh tế gia đình. Tháng 07/2022 chị chuyển về nhà bố mẹ ruột của chị sinh sống và vợ chồng chị sống ly thân từ đó đến nay. Khoảng cuối tháng 04/2023 anh T1 bị công an huyện L bắt giữ vì hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hiện nay anh T1 đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ công an huyện L. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T1 nên chị đề nghị ly hôn với anh T1 để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Có 01 con tên Hoàng Minh Đ, sinh ngày 02/12/2021. Hiện nay cháu Đ đang ở với chị. Trường hợp ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2024 bị đơn anh Hoàng Quang T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Linh T có đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn lý do vì anh sử dụng ma túy, chị T có khuyên răn anh nhiều lần nhưng không được. Ngày 13/4/2023 anh bị bắt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” hiện đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an huyện L. Nay chị T xin ly hôn anh tại Tòa án thì anh đồng ý.

Về con chung: Có 01 con tên Hoàng Minh Đ, sinh ngày 02/12/2021. Hiện nay cháu Đ đang ở với chị T. Trường hợp ly hôn anh đồng ý giao cháu Đ cho chị T nuôi dưỡng, tạm thời anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Từ khi thụ lý, quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Linh T và anh Hoàng Quang T1 là hôn nhân hợp pháp, anh chị sống với nhau từ năm 2022, có đăng ký kết hôn ngày 23/02/2022 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nay chị T có yêu cầu ly hôn với T1. Anh T1 thừa nhận cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và cũng đồng ý ly hôn với chị T. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh T1.

Về con chung: Có 01 con tên Hoàng Minh Đ, sinh ngày 02/12/2021. Hiện nay cháu Đ đang ở với chị T. Chị T, anh T1 thỏa thuận giao con chung cho chị T nuôi dưỡng. Do đó căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị giao cháu Đ cho chị T nuôi dưỡng, tạm thời anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Nghị quyết 326/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Linh T và bị đơn anh Hoàng Quang T1 có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh Hoàng Quang T1 có đăng ký thường trú và sinh sống tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

[3]. Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Linh T và anh Hoàng Quang T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 23/02/2022. Quá trình chung sống do tính tình vợ chồng không hòa hợp nên thường xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng chị T, anh T1 đã ly thân từ tháng 07/2022 đến nay mà không hàn gắn đoàn tụ được. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt, chị T xin ly hôn anh T1 tại Tòa án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Linh T về việc xin ly hôn với anh Hoàng Quang T1 thì thấy rằng: Chị T, anh T1 kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 23/02/2022 nên xác định hôn nhân giữa chị T, anh T1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2024 anh T1 có ý kiến đồng ý ly hôn với chị T. Xét thấy, vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, quá trình ly thân đã lâu nhưng vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt. Do đó không thể buộc một cuộc hôn nhân tồn tại mà không có hạnh phúc. Mặt khác anh T1 cũng đồng ý ly hôn nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Linh T, xử cho chị Nguyễn Thị L Thương được ly hôn anh Hoàng Quang T1.

Về con chung: Có 01 con tên Hoàng Minh Đ, sinh ngày 02/12/2021. Hiện nay cháu Đ đang ở với chị T. Trường hợp ly hôn chị T, anh T1 thỏa thuận giao cháu Đ cho chị T nuôi dưỡng, tạm thời anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét việc thỏa thuận nuôi con của các đương sự là không trái pháp luật và đạo đức xã hội cũng nên ghi nhận.

Về tài sản chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về nợ chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

[4] Về án phí: Chị T là người nộp đơn xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 228, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Linh T về việc xin ly hôn với anh Hoàng Quang T1. Xử cho chị Nguyễn Thị L T được ly hôn với anh Hoàng Quang T1.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hoàng Minh Đ, sinh ngày 02/12/2021 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời anh Hoàng Quang T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn chị T, anh T1 vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Anh T1 có quyền thăm nom con; không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
  4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Linh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0015211 ngày 12/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Chị T đã nộp đủ án phí.

Chị T, anh T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

* Nơi nhận :

  • - CCTHADS H. Long Thành;
  • - VKSND H. Long Thành;
  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi cấp giấy CNKH;
  • - Lưu văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger