|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 9 năm 2024
V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- * Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương
- * Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tin.
- Ông Đào Xuân Thịnh.
- * Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Đăng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng.
- * Đại diện VKSND huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc N - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2024/QÐST-HNGĐ ngày 04/9/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1993 (Có mặt)
- Cư trú: Thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Tuyết N1, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
- Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Nơi ở tạm: Số nhà A, Áp Sào L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 07/7/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Bùi Văn T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Tuyết N1 kết hôn ngày 08/7/2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng anh được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, anh và chị N1 về chung sống với nhau tại gia đình chồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 02/2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng anh chị không hòa hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh, cãi chửi nhau. Vợ chồng chị đã ly thân từ ngày 05/2021 đến nay. Nay anh xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh yêu cầu Toà án nhân dân huyện Yên Dũng giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Tuyết N1.
Về con chung: Không có, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Bản tự khai ngày 25/7/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Nguyễn Tuyết N1 trình bày:
Chị và anh Bùi Văn T kết hôn ngày 08/7/2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị và anh T về chung sống với nhau tại gia đình chồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 06/2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 06/2021 đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị đồng ý ly hôn anh Bùi Văn T.
Về con chung: Không có, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản xác minh ngày 29/8/2024, ông Tạ Quang M – Phó thôn T, xã L cho biết: Anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Tuyết N1 là công dân hiện cư trú tại: thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Tuyết N1 kết hôn năm 2020 Sau khi kết hôn thì đến nay chị N1 về ở tại: thôn T, xã L, huyện Y. Chị N1, anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan diểm sống và làm ăn kinh tế. Hiện nay anh T, chị N1 sống ly thân từ năm 2021 và không còn quan tâm đến nhau nữa.
* Tại biên bản xác minh ngày 29/8/2024, bà Hoàng Thị M1 – Là mẹ đẻ anh Bùi Văn T cho biết: Anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Tuyết N1 kết hôn năm 2020. Sau khi kết hôn thì anh T, chị N1 sống tại: thôn T, xã L, huyện Y. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Năm 2021, chị N1 bỏ về tỉnh Cà Mau sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay.
Toà án đã mở phiên hoà giải để hoà giải về quan hệ vợ chồng, tài sản, công nợ, án phí nhưng anh T, chị N1 đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có văn bản giữ nguyên ý kiến về việc giải quyết vụ án, không có chứng cứ gì khác giao nộp cho Toà án và cũng không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.
Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án chưa đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Tuyết N1.
- - Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Bùi Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần 2 đối với chị Nguyễn Tuyết N1 nhưng vắng mặt. Nên Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 BLTTDS.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Tuyết N1 xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, anh, chị có thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, Vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù bản thân và gia đình đã tích cực hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Anh T thấy không thể duy trì hôn nhân với chị N1 được, là quyền của anh T xin ly hôn. Vì vậy, xét mâu thuẫn giữa anh T, chị N1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu cho anh Bùi Văn T được ly hôn chị Nguyễn Tuyết N1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Tuyết N1 không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Bùi Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn T được ly hôn chị Nguyễn Tuyết N1.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Anh Bùi Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0005288 ngày 25/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Anh Bùi Văn T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỎI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dương |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Bùi Văn T xin ly hôn chị Nguyễn Tuyết N1
