|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16-8-2024 Về việc: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trịnh Thị Thu Huyền
- Ông Cao Nho Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương T - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 31/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mạnh K, sinh năm: 1997
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Ông Bùi Văn L, sinh năm: 1991
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Tôi và ông Bùi Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 02/3/2020. Quá trình chung sống, tôi và ông L phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cải vả, xúc phạm nhau. Vì thương con nên tôi đã cố gắng hàn gắn, hòa giải nhưng không thành. Nhận thấy mâu thuẫn giữa tôi và ông L đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Bùi Văn L.
Về con chung: Chúng tôi có một con chung là Bùi Quỳnh Tú L1, sinh ngày 03/6/2020. Tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tôi không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại bản tự khai đề ngày 30/7/2024 bị đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Mạnh K.
Về con chung: Chúng tôi có một con chung là Bùi Quỳnh Tú L1, sinh ngày 03/6/2020. Tôi đồng ý giao con chung cho bà K được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tôi không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
Phát biểu tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh kết luận:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết ly hôn đối với bị đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mạnh K và ông Bùi Văn L tự nguyện chung sống, kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường B, thành phố C cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 02/3/2020. Do đó, hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Mạnh K và ông Bùi Văn L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mạnh K và ông Bùi Văn L đều xác định có một con chung là Bùi Quỳnh Tú L1, sinh ngày 03/6/2020.
Xét thấy: Khi cha mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần và phù hợp với nguyện vọng của con. Bà K và ông L đều thống nhất giao con chung là Bùi Quỳnh Tú L1 cho bà Nguyễn Thị Mạnh K nuôi dưỡng, giáo dục. Vì vậy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Mạnh K không yêu cầu nên không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- - Các Điều 28, 227, 228, 238 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mạnh K được ly hôn ông Bùi Văn L.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mạnh K được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Bùi Quỳnh Tú L1, sinh ngày 03/6/2020. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Mạnh K không yêu cầu nên không xem xét.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp chăm sóc nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mạnh K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004662 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.
5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Hiên |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
