TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HS-ST
Ngày: 16 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Thiên Lương và bà Hoàng Thị Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2024/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Bằng S (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03/9/1985, tại huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
- Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/9/1980, tại huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Nguyễn Văn S1 và bà Nguyễn Thị N; vợ: Chu Thị Hồng C, sinh năm 1990, con có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q từ ngày 01/4/2024 cho đến nay, theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Nguyễn Thị T1; vợ: Lê Thị Đ, sinh năm 1983, con có 02 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q từ ngày 01/4/2024 cho đến nay, theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Chu Thị Hồng C, sinh năm 1990. Hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 07 giờ 45 phút, ngày 01/4/2024, Công an xã N, huyện T, tỉnh Quảng Bình tuần tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Bằng S và Nguyễn Văn T có hành vi dùng thuốc nổ ném xuống sông R đoạn đi qua địa phận thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Bình để đánh bắt cá trái phép. Tại thời điểm bắt giữ, Nguyễn Văn T đang xách trên tay 01 túi nilon màu đen, bên trong có chứa 02 đoạn dây điện dài 1,9m, một đầu của 02 dây điện được nối với nhau bằng 01 khối hình trụ màu trắng dài 0,46m và 01 cục chất rắn màu trắng đục ở dạng dẻo. S và T khai nhận hai đoạn dây điện trên là dây dẫn kíp nổ, còn chất rắn màu trắng đục ở dạng dẻo là thuốc nổ.
Tại bản kết luận giám định số 390/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A1 là nổ điện số 8, thuộc phụ kiện nổ, thuộc vật liệu nổ; mẫu ký hiệu A2 là thuốc nổ nhũ tương, thuộc vật liệu nổ, khối lượng 156,57g.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 04 giờ ngày 28/3/2024, Nguyễn Bằng S đi bộ thể dục, khi đến đoạn đường T thuộc thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì gặp 02 người đàn ông không quen biết đang chạy xe mô tô (biển kiểm soát, đặc điểm xe và hai người đàn ông Sâm không nhớ rõ), dừng lại hỏi S với nội dung “Anh có mua thuốc nổ để đánh bắt cá không”, thì S trả lời “Có, số lượng bao nhiêu”, người đàn ông trả lời “Khoảng tầm 2 đến 3 lạng” và nói giá 300.000 đồng, S đồng ý mua và về lấy tiền thanh toán. Tại thời điểm đó S kiểm tra thấy số vật liệu nổ vừa mua được gồm 01 cục thuốc nổ đã gắn sẵn kíp nổ; 01 cục thuốc nổ và kíp nổ bỏ rời nhau. Sau đó S mang số vật liệu nổ trên về nhà bỏ vào túi nilon màu xanh bên trong bọc màu đen đặt tại vị trí phòng ngủ của mình tại nhà riêng.
Đến khoảng 19 giờ 05 phút, ngày 30/3/2024, S điều khiển xe mô tô đến nhà Nguyễn Văn T để chơi, quá trình ngồi nói chuyện S có trao đổi với T nội dung “Mấy ngày trước em có mua được mấy lạng thuốc nổ, sáng mai anh sắp xếp thời gian đi đánh cá cùng em”, T đồng ý.
Khoảng 05 giờ ngày 01/4/2024, S lấy số vật liệu liệu nổ mua được nói trên đựng trong túi nilon màu xanh, bên trong bọc màu đen cất giấu trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Wave a, màu xanh, biển kiểm soát 38K1-420.27, và điều khiển xe chạy đến nhà T để cùng đi đánh bắt cá như đã hẹn từ trước. Quá trình di chuyển trên đường, S điều khiển xe chạy trước, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wace S, màu đen, biểm kiểm soát 73V2-7001 chạy sau. Cả hai điều khiển xe băng qua rừng giáp ranh giữa xe K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh với xã N, huyện T, tỉnh Quảng Bình, khi đến khu vực gần sông R, thuộc thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Bình thì dừng xe lại. Sau đó, S mở cốp xe ô tô của mình lấy ra 01 túi nilon màu xanh bên trong bọc màu đen chứa số liệu vật liệu nổ nói trên cùng T đi bộ xuống sát khu vực bờ sông. Khi đến nơi cả hai quan sát xung quanh không có người, S lấy từ trong túi nilon ra 01 cục thuốc nổ đã gắn sẵn kíp nổ rồi dùng điếu thuốc lá đang hút để đốt và ném ra giữa sông cách vị trí của cả hai đứng khoảng tầm 20m, gây ra một tiếng nổ lớn dưới lòng sông, số thuốc nổ và kíp nổ còn lại S đưa cho T cất giữ thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan Điều tra đã thu giữ gồm:
- + 156,57g thuốc nổ nhũ tương, thuộc vật liệu nổ.
- + 01 kíp nổ điện số 8, thuộc phụ kiện nổ, thuộc vật liệu nổ quá trình thực hiện giám định đã sử dụng hết.
- + 01 xe mô tô biển kiểm soát 38K1-420.27, nhãn hiệu Honda, số loại Wave a, màu sơn xanh, xe dã qua sử dụng. Số khung hiện tại: RLHJA3904HY304578, số máy hiện tại: JA39E-0304660.
- * Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 73V2-7001, nhãn hiệu Honda không liên quan đến vụ án, nên ngày 21/02/2024 Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 395/QĐ-ANĐT bằng hình thức trả lại cho chị Lê Thị Đ là vợ của Nguyễn Văn T, trú tại thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là người quản lý hợp pháp tài sản.
Bản Cáo trạng số 409/CT-VKSQB-P1 ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Bằng S về tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”, theo khoản 1 Điều 305 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xử áp dụng khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bằng S từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật quản lý, sử dụng vụ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017:
- - Tịch thu 150,53g thuốc nổ nhũ tương, thuộc vật liệu nổ, được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, giao Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Q xử lý theo quy định của pháp luật .
- - Trả lại xe mô tô biển kiểm soát 38K1-420.27, nhãn hiệu Honda, số loại Wave a cho bị cáo Nguyễn Bằng S.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Bằng S và Nguyễn Văn T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án, bản ảnh hiện trường vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/3/2024, Nguyễn Bằng S mua 156,57g thuốc nổ nhủ tương và 01 kíp nổ điện số 08, thuộc phụ kiện nổ, thuộc vật liệu nổ của hai người đàn ông không quen biết về cất giấu tại nhà riêng. Đến khoản 05 giờ ngày 01/4/2024, S lấy vật liệu nổ cất giấu vào trong cốp xe mô tô và điều khiển xe mô tô đi cùng Nguyễn Văn T đến sông R thuộc địa phận thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Sâm lấy cục thuốc nổ đã gắn sẵn kíp nổ rồi dùng điếu thuốc lá đang hút để châm và ném ra giữa sông gây tiếng nổ lớn để đánh bắt cá thì bị Công an xã N phát hiện, bắt giữ. Tại thời điểm bắt người phạm tội quả tang đã thu giữ trong người Nguyễn Văn T khối lượng 156,57g thuốc nổ nhủ tương và 01 kíp nổ điện số 08, thuộc phụ kiện nổ, thuộc vật liệu nổ. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng vật liệu nổ, hành vi của Nguyễn Bằng S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vật liệu nổ”; hành vi của Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ” được quy định tại khoản 1 Điều 305 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình và lời luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa tại phiên tòa truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về vai trò, tính chất đồng phạm, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Bằng S là người chuẩn bị công cụ và rủ rê Nguyễn Văn T thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm lớn hơn bị cáo T vì bị cáo Nguyễn Văn T là đồng phạm với vai trò không đáng kể. Vụ án có 02 bị cáo tham gia, tuy nhiên trước khi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò, vị trí cho nhau, vì vậy tính chất đồng phạm chỉ mang tính giản đơn.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Ngoài lần thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vật liệu nổ nêu trên các bị cáo chưa có lần nào vi phạm pháp luật nên các bị cáo có nhân thân tốt.
- Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy: Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt và nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho các bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
- Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q thu giữ một số vật chứng. Qua xem xét, Hội đồng xét xử quyết định xử lý số vật chứng này như sau:
- Đối với 150,53g thuốc nổ nhũ tương, thuộc vật liệu nổ nên cần tịch thu giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Q xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 38K1-420.27, nhãn hiệu Honda, số loại Wave a. Đây là phương tiện mà bị cáo S sử dụng vào việc phạm tội, tuy nhiên đây là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo S và chị Chu Thị Hồng C (vợ anh S) nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo S, chị C không có lỗi trong việc để bị cáo sử dụng phương tiện này vào việc phạm tội, đây là phương tiện duy nhất phục vụ việc đi lại của gia đình bị cáo S nên sau khi xem xét, đánh giá, HĐXX quyết định trả lại xe mô tô nêu trên cho bị cáo.
- Về án phí: Các bị cáo S và T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Các vấn đề khác:
Hành vi tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vật liệu nổ của các bị cáo đã thực hiện trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng vật liệu nổ, làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải; bị cáo S từng tham gia quân ngũ tại Đại đội 6, Tiểu đoàn A, Trung đoàn 54, Sư đoàn C2 và có ông ngoại là Liệt sĩ (Ông Nguyễn N1 hi sinh năm 1968); bị cáo T có C1 là người có công với cách mạng (ông Nguyễn Văn B hưởng chế độ thương binh loại A). Do đó, HĐXX qua thảo luận, đánh giá quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho các bị cáo.
Trong vụ án này còn có dấu hiệu của hành vi mua bán trái phép vật liệu nổ của bị cáo S với hai người đàn ông. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định do trời tối, lần đầu tiên gặp hai người đàn ông đó nên bị cáo S không thể nhận dạng và nhớ đặc điểm về phương tiện cũng như đặc điểm hai người đàn ông. Vì vậy, không đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với hai người đàn ông này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 1, khoản 2 Điều 47, Điều 65, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017; Nghị định 79/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ về việc “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án (đối với cả hai bị cáo).
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bằng S phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vật liệu nổ”; bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Bằng S 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/8/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/8/2024.
Các bị cáo bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo nên tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo.
Giao các bị cáo Nguyễn Bằng S và Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu 150,53g thuốc nổ nhũ tương, thuộc vật liệu nổ đựng trong 01 phong bì đã được niêm phong vào 01 phong bì dán kín, giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Q xử lý theo quy định của pháp luật. (Vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Q theo Lệnh nhập kho vật chứng số 75/LNK-ANĐT ngày 18/6/2024 của cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q và Lệnh nhập kho số 09 ngày 19/6/2024 của Phòng kỷ thuật Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Q).
- - Trả lại xe mô tô biển kiểm soát 38K1-420.27, nhãn hiệu Honda, số loại Wave a cho bị cáo Nguyễn Bằng S.
- Án phí: Các bị cáo Nguyễn Bằng S và Nguyễn Văn T phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/8/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vật liệu nổ"
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vật liệu nổ"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bằng S
