|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số 33/2024/HS-ST
Ngày 15 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Phan Thùy Trang; ông Lê Châu Hùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
PHAN CHÍ HIỆP, sinh năm 1986 tại huyện P, An Giang; nơi cư trú: Tổ D, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn M, sinh năm 1960 và bà Hồ Thị L, sinh năm 1947; anh, chị, em có 05 người, bị cáo là người thứ tư.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 18/10/2023, Tòa án nhân dân thành phố huyện Phú Tân, tỉnh An Giang quyết định số 40/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng, quyết định có hiệu lực, bỏ trốn, không chấp hành, tiếp tục phạm tội nêu trên, đến ngày 28/11/2023, bị bắt giữ và đưa đi cai nghiện theo Quyết định nêu trên.
Nhân thân:
- - Ngày 07/01/2013, Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang áp dụng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 29/12/2014.
- - Ngày 03/9/2015, Tòa án nhân dân thành phố huyện Phú Tân, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 20/9/2017.
- - Ngày 01/02/2019, Tòa án nhân dân thành phố huyện Phú Tân, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 22 tháng, chấp hành xong 18/7/2020.
Bị cáo đang điều trị cai nghiện tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang từ ngày 28/11/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Nguyễn Thanh T, sinh năm 1984; nơi cư trú: khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- - Lê Minh T1, sinh năm 1996; nơi cư trú: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- - Võ Hoàng H, sinh năm 1989; nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Trung N, sinh năm 1962; Hứa Hồng X, sinh năm 1972, cùng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 40 phút ngày 16/11/2023, tại khu vực ngã tư đường L, tổ H, khóm C, phường V, Đội Cảnh sát giao thông, trật tự - Công an thành phố C trên đường tuần tra phát hiện Phan Chí H1 chở người thanh niên tên L1 (không rõ lai lịch) vượt đèn đỏ nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra, L1 bỏ đi, H1 lấy từ túi quần bên phải lấy ra một đoạn khẩu trang xám cuộn tròn, bên trong có túi nhựa trong suốt, hàn kín, chứa chất bột màu trắng và 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền đỏ, chứa tinh thể trắng vứt xuống đường thì bị lực lượng Công an thu giữ. Lợi dụng sơ hở, H1 bỏ lại xe, tẩu thoát. Đến ngày 28/11/2023, bắt giữ được H1. Qua làm việc, H1 thừa nhận chất bột màu trắng và tinh thể màu trắng là ma túy đá, H1 khai có được là dùng con gà trao đổi ma túy với một nam thanh niên (không rõ lai lịch) ở khu vực C, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, mục đích tàng trữ ma túy để cất giấu, sử dụng.
Căn cứ Kết luận giám định số 223/KL-KTHS (MT-GT) ngày 30-11-2023 của Phòng K - Công an tỉnh A kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 1,2855g và loại Methamphetaminem khối lượng 0,1439g. Tổng khối lượng ma túy là 1,4249g”.
Tại Cáo trạng số 17/CT-VKSCĐ-HS ngày 03 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Phan Chí H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Phan Chí H1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Chí H1 như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phan Chí H1 từ 02 năm đến 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả lại xe mô tô cho bị cáo H1, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ theo giám định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Toà án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, trong quá trình điều tra đã có lời khai, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Phan Chí H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi tội phạm gây ra, Kết luận giám định cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận khoảng 9 giờ 40 phút ngày 16/11/2023, tại khu vực ngã tư đường L, tổ H, khóm C, phường V, bị cáo Phan Chí H1 đã bị bắt quả tang vì có hành vi cất giấu ma túy gồm loại Heroine và loại Methamphetaminem, tổng khối lượng ma túy là 1,4249g. Hành vi của bị cáo Phan Chí H1 đã thỏa mãn dấu hiệu tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.
[3] Ma túy là chất gây nghiện, là mầm mống làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, được Nhà nước độc quyền quản lý; đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây tác động xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
[4] Bị cáo H1 có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý hành chính về buộc chấp hành điều trị cai nghiện bắt buộc, bị cáo không cải sửa bản thân tái hòa nhập cộng đồng, từ bỏ ma túy, làm người lương thiện, trái lại, có hành vi cố ý vi phạm pháp luật tàng trữ trái phép chất ma túy gồm loại Heroine và loại Methamphetaminem, tổng khối lượng ma túy là 1,4249g. Vì vậy, xét thấy phải có mức hình phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tạo điều kiện để bị cáo biết cải tạo sức lao động, nhận thức sâu sắc và sửa chữa sai lầm về hành vi trái pháp luật đã thực hiện, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội như quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Do hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thực hiện trong thời gian chấp hành Quyết định số 40/QĐ-TA ngày 18/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố huyện Phú Tân, tỉnh An Giang về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng, nhưng do bị cáo bỏ trốn. Vì vậy, căn cứ Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020, miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 40/QĐ-TA ngày 18/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đối với Phan Chí H1 để buộc bị cáo H1 chấp hành hình phạt tù.
[6] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thuộc thành phần lao động, không biết chữ nên hiểu biết pháp luật hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, cần xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Hình phạt bổ sung
Bị cáo thuộc thành phần lao động, không có nghề nghiệp ổn định; xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Xử lý vật chứng
Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo và bao gói ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy lượng ma túy này theo Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe môtô biển số 62M4 - 9087, màu xanh, kiểu dáng Wave, lóc máy hiệu Ja Moto, số khung: RPDWCH3PD5A0A9719; số máy: VLFPD1P52FMH - 3*5A1A9719 (xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong). Bị cáo H1 khai là mua từ năm 2022 của một người thanh niên không rõ lai lịch với giá 2.000.000 đồng, mục đích làm phương tiện sinh sống, đi làm thuê, không dùng vào việc phạm tội, nghĩ nên tuyên trả lại cho bị cáo sử dụng là phù hợp.
[9] Những vấn đề khác
Đối với người thanh niên không rõ lai lịch đổi ma túy và người nam tên L1 đi cùng bị cáo H1, chưa làm việc được, cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, củng cố hồ sơ xử lý sau.
[10] Bị cáo H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Bị cáo H1 có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Phan Chí H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử Phan Chí Hiệp 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo H1 được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
[2] Căn cứ Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020, miễn chấp hành phần thời gian còn lại của Quyết định số 40/QĐ-TA ngày 18/10/2023 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
[3] Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 203/KL-KTHS(MT-GT) ngày 30 tháng 11 năm 2023 giám định là ma túy.
Trả lại cho bị cáo Phan Chí H1 01 xe môtô biển số 62M4 - 9087, màu xanh, kiểu dáng Wave, lóc máy hiệu Ja Moto, số khung : RPDWCH3PD5A0A9719 ; số máy : VLFPD1P52FMH - 3*5A1A9719.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).
[4] Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phan Chí H1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Phan Chí H1 có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
