Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ – ST.

Ngày: 14-8-2024.

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thúy Kiên.

- Ông Nguyễn Văn Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Minh Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2024/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị V - sinh năm 1980.

    Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (xin xét xử vắng mặt)

  2. Bị đơn: Ông Phạm Thanh P - sinh năm 1977.

    Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt lần thứ hai, không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Thanh P tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 1997, hôn nhân có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (cũ) vào ngày 04/5/2006. Thời gian đầu chung sống gia đình cũng đầm ấm, hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong tình cảm vợ chồng và ông P thường xuyên đi ăn nhậu về còn kiếm chuyện chửi mắng bà nhiều lần, vì vậy vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau dẫn đến hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ nên bà và ông P đã chính thức sống ly thân từ năm 2009 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng vẫn không có giải pháp xóa bỏ mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông P và cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P để trả tự do cho nhau.

Về con chung: Bà V và ông P chung sống có 02 (hai) con chung tên Phạm Thị N – sinh ngày 04/10/1998 và Phạm Thị N1 – sinh ngày 20/4/2001. Khi ly hôn do hai con chung đều đã đủ tuổi trưởng thành và lập gia đình ở riêng nên bà không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/7/2024 bị đơn ông Phạm Thanh P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông P và bà V tự nguyện tiến đến hôn nhân vào khoảng năm 1999, hôn nhân có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không phù hợp nên thường xuyên xảy ra cự cãi nhau. Đến khoảng năm 2009 bà V bỏ về nhà cha mẹ ruột ở nên ông và bà V chính thức sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân ông có tìm cách liên lạc để hàn gắn tình cảm với bà V, nhưng do không liên lạc được với bà V nên đến nay vợ chồng vẫn chưa xóa bỏ được mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm. Do hiện nay ông vẫn còn tình cảm và thương vợ con nên qua yêu cầu xin ly hôn của bà V thì ông không đồng ý ly hôn với bà V, ông mong muốn bà V quay về tiếp tục chung sống cùng ông.

Về con chung: Ông P thống nhất với ý kiến của bà V trình bày là ông bà có 02 (hai) con chung tên Phạm Thị N – sinh ngày 04/10/1998 và Phạm Thị N1 – sinh ngày 20/4/2001. Khi ly hôn do hai con chung đều đã đủ tuổi trưởng thành và lập gia đình ở riêng nên ông cũng thống nhất không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông P thống nhất với ý kiến của bà V trình bày là ông bà không có tài sản cung và cũng không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để động viên các đương sự bỏ qua mâu thuẫn, trở về đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng nhiều lần bị đơn ông P không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Trần Thị V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà cam kết vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu đã trình bày như trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, bà không bổ sung gì thêm.

Bị đơn ông Phạm Thanh P vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký và việc chấp hành pháp luật của đương sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị V được ly hôn với ông Phạm Thanh P.
  • - Về con chung: Bà V và ông P có 02 (hai) con chung tên Phạm Thị N – sinh ngày 04/10/1998 và Phạm Thị N1 – sinh ngày 20/4/2001. Do hiện nay hai con chung đã đủ tuổi trưởng thành và đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự thống nhất xác định không có nên đề nghị công nhận.
  • - Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà V phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét tại phiên tòa, nguyên đơn bà V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn bị đơn ông P vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bà V và ông P theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Bà V yêu cầu được ly hôn với ông P. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Phạm Thanh P có địa chỉ thường trú và sinh sống tại khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Do đó, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà V và ông P chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và bà V có đơn xin ly hôn nên Tòa án thụ lý xem xét, giải quyết theo thủ tục chung.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà V, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà V cho rằng trong quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong tình cảm vợ chồng, ông P thường đi ăn nhậu về kiếm chuyện chửi mắng bà nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi nhau và ông bà cũng đã chính thức sống ly thân từ năm 2009 cho đến nay. Từ khi ly thân đến nay ông bà cũng không có giải pháp xóa bỏ mâu thuẫn để hàn gắn được tình cảm vợ chồng nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P. Về phía ông P cho rằng trong thời kỳ hôn nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra cãi vã dẫn đến hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ và từ năm 2009 ông và bà V đã ly thân cho đến nay. Do hiện nay ông vẫn còn tình cảm với bà V nên không đồng ý ly hôn với bà V.

Xét, việc ông P không đồng ý ly hôn vì ông cho rằng còn tình cảm với bà V nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra bất hòa và sống ly thân đã lâu, mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm lẫn nhau và từ khi sống ly thân cho đến nay ông cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với bà V, đồng thời quá trình giải quyết vụ án nhiều lần Tòa án đã triệu tập ông đến tham gia hòa giải để động viên các bên xóa bỏ mâu thuẫn hàn gắn tình cảm nhưng ông đều vắng mặt và phiên tòa xét xử mở lần thứ hai nhưng ông vẫn không đến dự, không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm với bà V nên việc ông cho rằng còn tình cảm với bà V chỉ là lời nói suông. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được, nếu tiếp tục kéo dài đời sống chung cũng không đạt được hạnh phúc. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà V là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Bà V và ông P chung sống có 02 (hai) con chung tên Phạm Thị N – sinh ngày 04/10/1998 và Phạm Thị N1 – sinh ngày 20/4/2001. Do hiện nay hai con chung đều đã thành niên (đủ 18 tuổi) và đã lập gia đình ở riêng nên bà V và ông P thống nhất không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự thống nhất xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà V phải chịu theo quy định pháp luật.

[5] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 51, 53, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị V được ly hôn với ông Phạm Thanh P.
  2. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
  3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị V phải nộp số tiền 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) bà V đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005400 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (công nhận bà V đã nộp xong án phí).
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  5. Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Cần Thơ;
  • - VKSND Q. Thốt Nốt;
  • - Chi Cục THA DS Q. Thốt Nốt;
  • - Các Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

T

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ – ST ngày 14/08/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger