Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ANH SƠN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày 14 – 8 – 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Trọng Anh;

2. Bà Nguyễn Thị Minh Thi;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức P - sinh ngày 17 tháng 02 năm 2006 tại huyện A, tỉnh Nghệ An (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng 06 ngày). Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: thôn G, xã K, huyện A, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: học sinh; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1977; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 – Là bố đẻ của bị cáo.

Địa chỉ: Thôn G, xã K, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt.

- Người bị hại: Chị Trần Thị T, sinh năm 1986 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Anh Trần Văn V, sinh năm 1972 (chồng của chị T). Có mặt.

Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Thôn G, xã K, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 01 năm 2024, Nguyễn Đức P (không có giấy phép lái xe) đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe JUPITER màu sơn trắng xám, biển kiểm soát 37M1-063.55, đi từ thôn G, xã K, huyện A, tỉnh Nghệ An để đến trường Trung học phổ thông Anh S 1 theo đường Quốc lộ 7, theo hướng huyện Đ đi huyện C, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến Km 57+150 đường Q, thuộc địa phận thôn A, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An đã đâm vào phía sau chị Trần Thị T, sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An đang đi bộ phía trước cùng chiều. Sau khi va chạm, xe mô tô và P ngã văng xuống đường, trượt sang phần vỉa hè ở phần đường ngược lại theo chiều di chuyển ban đầu, còn chị T ngã xuống đường văng sang vỉa hè bên phải. Sau đó, P và chị T được mọi người đưa đi cấp cứu ở Trung tâm y tế huyện A, tỉnh Nghệ An. Hậu quả: chị T bị tử vong trên đường đi cấp cứu, P bị thương sọ não nặng nên được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa hữu nghị tỉnh N.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định cụ thể như sau:

Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại Km 57+150 đường Q thuộc địa phận thôn A, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An, theo hướng Đ - T, mặt đường rải nhựa tương đối bằng phẳng, đường thẳng không bị che khuất tầm nhìn, mặt đường rộng 6,8 m, ở giữa có vạch kẻ tâm đường màu vàng, chia mặt đường thành 2 làn đường xe chạy ngược chiều nhau, có độ rộng mỗi làn là 3,4 m. Hai bên đường quốc lộ là lề đường bằng bê tông lề đường phía bắc rộng 1,1m, lề đường phía nam rộng 0,6m.

  • + Vùng dấu vết máu: trên lề đường và làn đường phía bắc quốc lộ G phát hiện vùng dấu vết máu dạng chảy đọng, tia bắn có kích thước (0,5m x 0,3m), tâm vùng dấu vết cách sân nhà chị Nguyễn Thị T1 là 2,6m về phía Tây nam, cách mép đường phía bắc đường quốc lộ 7 là 0,85m.
  • + Vùng mũ bảo hiểm bị vỡ và 01 chiếc dép: Trên lề đường và làn đường phía bắc quốc lộ G, phát hiện các mảnh vỡ của mũ bảo hiểm bị vỡ và 01 chiếc dép màu nâu, các dấu vết này nằm rải rác trên mặt đường, trên diện tích (5,4m x 1,1m) điểm ngoài cùng phía Đông vùng dấu vết đồ vật này nằm ngang với mép sân phía đông nhà chị Trần Thị T.
  • + Dấu vết cà trượt: Trên làn đường, lề đường và mương nước phía bắc đường quốc lộ 7 phát hiện dấu vết cà trượt không liên tục dài 6,5m, chỗ rộng nhất 0,55m, chiều hướng từ Đông Bắc sang T, điểm đầu vùng dấu vết cách vạch kẻ tâm đường 1,4m về phía nam, cách vị trí dấu vết máu ở vị trí (1) là 11,3 m về phía Tây nam, điểm cuối vùng dấu vết cách mép đường phía nam đường quốc lộ 7 là 2m, nằm đối diện phía dưới là xe mô tô gắn biển kiểm soát 37M1-063.55.
  • - Xe mô tô biển kiểm soát 37M1- 063.55 sau tai nạn: Nằm ngả nghiêng bên trái trên mương thoát nước và nhà dân phía nam đường Q, đầu xe hướng về phía Tây, đuôi xe hướng về phía đông, tâm trục bánh trước cách mép đường 7 về phía nam 1,8 m, tâm trục bánh xe sau cách mép đường 7 về phía nam 1,5 m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 37M1-063.55:

Mặt trên và thành bên phải lốp trước, vị trí cách lỗ chân van 18 cm (cùng chiều tiến của bánh xe) có vùng dấu vết trượt sạch mất một phần bụi đất kích thước(20x4) cm, dấu vết có hướng từ mặt lăn vào tâm trục; Ở vị trí đinh ốc bắt cố định trục bánh trước (bên phải) được bắt cố định 01 thanh kim loại dạng hình chữ “L” dài 34 cm, mặt trước ngoài thanh kim loại và phần phía dưới trước của ống kim loại giảm xóc phía trước (bên phải) có vùng dấu vết trượt sạch mất một phần bụi đất, sáng kim loại, một số vị trí có in hằn các đường thẳng song song (dạng vân vải) trên diện có kích thước (15x11) cm, thanh kim loại bị đẩy dồn theo chiều hướng từ trước ra sau; Vị trí đèn xi - nhan phía bên phải và phần ốp nhựa đầu xe phía trước, bị trượt sạch mất một phần bụi đất, nứt vỡ kính, nhựa, trên bề mặt in hằn các đường song song dạng vân vải kích thước (33x12) cm, dấu vết cách mặt đất 75 cm; Mặt trước gốc phanh tay có vùng dấu vết trượt sạch mất một phần bụi đất, sáng kim loại, trên bề mặt in hằn các dấu vết song song dạng vân vải, kích thước (13x2,5) cm, tâm dấu vết cao nhất cách mặt đất 95cm. Gương chiếu hậu bên trái bị gãy rời khỏi xe.

Tại bản kết luận giám định số 24/KLGĐ-KTHS (DVCH) ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N. Kết luận:

  • “1. Ngay khi xảy ra tai nạn, xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-063.55 di chuyển trên đường quốc lộ 7 theo hướng từ xã K đi xã P.
  • - Không xác định được phần đường di chuyển của xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-063.55 ngay khi xảy ra tai nạn.
  • 2. Xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-063.55 có va chạm với bà Trần Thị T, vị trí va chạm đầu tiên:
  • - Trên hiện trường: Ở trên đường Q nhưng không xác định được chính xác vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-063.55 với chị Trần Thị T thuộc phần đường nào.
  • - Trên xe mô tô biển kiểm soát 37M1-063.55: Ở phía trước bên phải xe.
  • - Trên cơ thể của bà Trần Thị T: Ở mặt sau cẳng chân trái
  • 3. Không xác định được tốc độ di chuyển của xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-063.55 ngay tại thời điểm xảy ra tai nạn”.

Biên bản khám nghiệm tử thi đối với chị T ghi nhận:

Vùng đầu phía sau, cách thẳng trên điểm giữa đường chân tóc gáy 10 cm, có 01 vùng xây xát da, sưng phù nề bầm tụ máu không liên tục, kích thước (12x9) cm; L, mông cách thẳng dưới điểm giữa đường chân tóc tóc gáy 52cm bị xây xát, mài miết mất lớp thượng bì da bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (12x16)cm; Từ 1/3 trên sau cẳng chân trái xuống đến gót chân bên trái bị xây xát, mài miết mất lớp thượng bì da, bầm tụ máu không liên tục kích thước (29x10)cm, điểm cao nhất của dấu vết cách trên gót chân trái là 30 cm. Dấu vết xây xát da có kích thước (14x3,5) cm, chiều hướng từ sau ra trước.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 15/KLGĐTT-KTHS ngày 19/01/2024, của Phòng K Công an tỉnh N kết luận nguyên nhân chết đối với chị Trần Thị T do “Vỡ, sập xương hộp sọ, xuất huyết não do chấn thương”.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

  • + Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe JUPITER, màu sơn trắng xám gắn biển kiểm soát 37M1- 063.55; 01 bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006105 mang tên Nguyễn Văn H đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện A trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn H.
  • + Đối với các đĩa DVD, trong đó có chứa 01 file video ghi hình có âm thanh toàn bộ quá trình hỏi cung bị can Nguyễn Đức P vào ngày 10/6/2024 đã được niêm phong vào phong bì thư kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ tai nạn xảy ra, P và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình chị T số tiền 105.000.000 đồng. Anh Trần Văn V - đại diện hợp pháp của chị T không yêu cầu gì thêm.

Cáo trạng số 32/CT - VKS - AS ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn đã truy tố bị cáo P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự; Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 101 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng; Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
  • - Người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân, động cơ và các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là do đoạn đường gấp, ngược chiều có xe ô tô pha chói, bản thân điều khiển xe chưa thành thạo nên khi gặp chướng ngại vật thì bị cuống và không xử lý được nên mới gây ra cái chết cho chị T, điều đó hoàn toàn là do rủi ro ngoài ý muốn của bị cáo. Mặt khác, trước khi gây tại nạn giữa bị cáo và chị T không mâu thuẫn gì với nhau nên hành vi của bị cáo hoàn toàn không cố ý, hơn nữa tuổi đời bị cáo còn trẻ, đang ở độ tuổi vị thành niên nên sự phát triển tâm sinh lý chưa được hành chỉnh, bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, được người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng pháp luật.

[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06 tháng 01 năm 2024, tại Km57+150 Quốc lộ G thuộc địa phận thôn A, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Đức P điều khiển xe mô tô Yamaha, nhãn hiệu Jupiter gắn kiểm soát 37M1-063.55 (không có giấy phép lái xe hợp lệ theo quy định) đi theo hướng huyện Đ đi huyện C, do thiếu chú ý quan sát nên đã va chạm vào phía sau cơ thể chị Trần Thị T đi bộ phía trước cùng chiều. Hậu quả làm chị Trần Thị T tử vong trên đường đi cấp cứu. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi thực hiện với lỗi vô ý, hơn nữa bị cáo không có giấy phép lái xe nhưng vẫn bất chấp điều khiển xe lưu thông trên đường, hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 9 khoản 23 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết tội P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng, an toàn, tính mạng của người khác nhất là trong tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ngày một gia tăng dẫn đến tai nạn liên tiếp xẩy ra, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông nên cần phải xử phạt để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã tự nguyện bồi thương, phục hậu quả, người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Nên xét thấy cần giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Như vậy xét bị cáo nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo theo khung hình phạt liền kề nhẹ hơn, đồng thời áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và chịu sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ để răn đe giáo dục bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về dân sự: Quá trình điều tra giữa bị cáo và gia đình người bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe JUPITER, màu sơn trắng xám gắn biển kiểm soát 37M1- 063.55; 01 bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006105 mang tên Nguyễn Văn H đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn H. Tại phiên tòa anh H không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65; Điều 90, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/8/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Đức P cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện A, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo theo quy định tại Điều 94 của Luật thi hành án hình sự và Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Đức P phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Anh Sơn;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
  • - CQĐT Công an huyện Anh Sơn;
  • - CQTHAHS huyện Anh Sơn;
  • - CCTHADS huyện Anh Sơn;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hồng Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức phát vi phạm giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger