Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 14-6- 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Bình
  • Bà Nguyễn Thị Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Võ Duy P, sinh năm 1992, tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E, T, khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn N và bà Lê Thị X; Vợ: Văn Thị Huyền T; con có 01 người, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/11/2023 đến ngày 23/11/2023, được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Nguyễn Lê Anh Q, sinh năm 2003; nơi cư trú: Đường L, khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
  • - Nguyễn Trọng H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số D, đường T, phường Đ, Thành Phố P, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

Người làm chứng:

  • - Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1958; nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
  • - Huỳnh Hoàng L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
  • - Phan T1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ B, Khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 07/11/2023, một đối tượng tên H2 nhà ở thị trấn V, huyện Đ gọi điện thoại cho Võ Duy P hỏi P có bán pháo nổ không, bán cho H2, Võ Duy P trả lời H2 là có và nói có gì sẽ gọi lại cho H2 sau.

Đến ngày 08/11/2023, Võ Duy P lên mạng xã hội Facebook tìm được một người bán pháo (không nhớ nickname là gì), Võ Duy P liên lạc hỏi giá pháo bông loại một bánh 36 ống và giá pháo banh; người bán pháo báo giá pháo bông loại 36 ống có giá 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi ngàn đồng)/01 bánh và pháo banh có giá là 550.000 đồng (năm trăm năm mươi ngàn đồng)/01 bịch 100 trái.

Sau khi đã biết giá Võ Duy P gọi điện thoại cho H2 báo cho H2 là pháo bông loại 36 ống có giá 780.000 đồng (bảy trăm tám mươi ngàn đồng)/01 bánh và pháo banh có giá là 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi ngàn đồng/01 bịch 100 trái. H2 đồng ý giá cả rồi đặt mua của Võ Duy P số lượng 15 (mười lăm) bánh pháo bông và 05 (năm) bịch pháo banh với tổng số tiền là 14.950.000 đồng (Mười bốn triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng), Võ Duy P đồng ý và nói với H2 khi nào có sẽ đến thị trấn V giao pháo và gọi cho H2 đến nhận.

Sau khi đã thống nhất với H2 việc mua bán pháo Võ Duy P liên lạc lại với người bán pháo đặt mua pháo với số lượng như H2 đã đặt. Ngày 12/11/2023, người bán pháo gửi xe khách đưa pháo cho Võ Duy P qua đường xe đò, Võ Duy P đi ra quốc lộ A nhận, 02 (hai) thùng giấy catton được dán kín, Võ Duy P biết bên trong có chứa pháo. Võ Duy P chở 02 (hai) thùng pháo về nhà mình sau đó mở 02 (hai) thùng pháo ra kiểm tra thì đúng với số lượng mà Võ Duy P đã đặt mua. Sau khi kiểm tra xong, Võ Duy P lấy 01 (một) bánh pháo bông ra rồi để pháo lại vào trong 02 (hai) thùng catton. Trong đó, Võ Duy P để 10 bánh pháo bông vào trong 01 (một) thùng và để 04 (bốn) bánh pháo bông cùng với 05 (năm) bịch pháo banh vào trong 01 (một) thùng, sau đó Võ Duy P dán băng keo kín 02 (hai) thùng pháo lại.

Đến khoảng 10 giờ ngày 14/11/2023, Võ Duy P gọi điện thoại cho H2 nói là Võ Duy P đi đến thị trấn V để giao pháo cho H2, H2 đồng ý. Võ Duy P để 01 thùng pháo lên chiếc xe môtô biển số 86B6-298.69, 01 thùng pháo lên chiếc xe môtô biển số 86C2-138.42 và 01 bánh pháo bông Võ Duy P để trong giỏ đeo rồi để lên xe môtô biển số 86B3-123.45. Sau đó, Võ Duy P gọi điện thoại cho Nguyễn Lê Anh Q, sinh năm 2003 trú tại đường L, khu phố C, phường P, thành phố P và Nguyễn Trọng H, sinh năm 2000 trú tại số D, đường T, phường Đ, thành phố P rủ Q và H đi đến thị trấn V, huyện Đ để chơi. Nguyễn Lê Anh Q và Nguyễn Trọng H đồng ý. Một lúc sau Nguyễn Lê Anh Q và Nguyễn Trọng H đi đến nhà Võ Duy P, lúc này Võ Duy P nói với Q và H đi đến huyện Đ để chơi, sẵn tiện Võ Duy P đến giao mấy hộp pháo Quốc phòng cho người ta, Nguyễn Lê Anh Q và Nguyễn Trọng H nghe vậy thì đồng ý và không nói gì. Võ Duy P điều khiển chiếc xe 01 chiếc biển số 86B3-123.45 trên xe P đã để sẵn mỗi xe 01 thùng đựng pháo, trước khi đi thì Võ Duy P, Nguyễn Lê Anh Q và Nguyễn Trọng H cột dây quấn thùng pháo vào xe. Sau đó, cả ba chạy xe đi từ P đi đến V.

Khi đến thị trấn V, cả ba vào nhà nghỉ H4 thuộc khu phố C, thị trấn V thuê phòng nghỉ. Sau khi vào thuê phòng Võ Duy P nói Nguyễn Trọng H chở Võ Duy P đi đến quán cà phê 2001, khi đi Võ Duy P mang theo chiếc giỏ có 01 (một) bánh pháo bông mục đích là để cho H2 xem hàng trước, còn 02 (hai) thùng pháo trên xe 86C2-138.42 và 86B6-298.69 vẫn để trên xe tại bãi xe của nhà nghỉ H4.

Nguyễn Trọng H điều khiển xe môtô biển số 86B3-123.45 chở Võ Duy P đến quán 2001, sau đó Nguyễn Trọng H đi về lại nhà nghỉ H4, Võ Duy P mang chiếc giỏ có 01 bánh pháo bông đi vào quán 2001. Võ Duy P gọi điện thoại cho H2 đến, Võ Duy P lấy bánh pháo bông ra cho H2 xem, H2 xem xong sau đó đi ra ngoài. Lúc này có Cơ quan công an đến quán 2001 kiểm tra, thấy Võ Duy P đang để bánh pháo bông trong giỏ nên bắt giữ Võ Duy P. Qua làm việc với cơ quan công an, Võ Duy P khai nhận còn 02 (hai) thùng giấy catton đựng pháo tại nhà nghỉ H4. Sau đó, cơ quan công an lập biên bản và thu giữ tang vật.

Tại kết luận giám định số 1332/KL-KTHS, ngày 23/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B xác định:

- 01 (một) hộp hình hộp chữ nhật, bên ngoài có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, kích thước (14 x 14 x 10) cm, kí hiệu HAPPY BOOM SHOOT CAKE (1INCI 36 SHOTS) được niêm phong trong 01 thùng carton kích thước (27,5 x 18 x 13,5) cm, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Huỳnh H3, Thái Văn T2, Võ Duy P và có dấu hình tròn đỏ của CATT.Võ Xu, được đánh số I, gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng là 1,1 kg.

- 14 (mười bốn) hộp hình hộp chữ nhật, bên ngoài đều có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, kích thước các hộp (14 x 14 x 10) cm, kí hiệu KS4-3611, được niêm phong trong 01 thùng carton kích thước (25 x 73,5 x 59,5) cm, được đánh số II, gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng là 14,1 kg.

- 02 (hai) bịch nylon có chứa 200 (hai trăm) khối hình tròn màu xám, mỗi khối đều có 01 đầu có gắn 01 đoạn ống dây có kích thước khoảng 06cm. Được niêm phong trong 01 thùng carton có kích thước (48,5 x 28 x 13,5) cm, được đánh số III, gửi giám định là pháo nổ pháo hoa nổ. Khi đốt phát ra tiếng nổ. Khối lượng là 1,75 kg.

- 03 (ba) bịch nylon được hàn kín, tất cả đều có kích thước (17 x 24) cm, bên trong 03 bịch có 300 (ba trăm) khối hình tròn nhiều màu sắc, mỗi khối đều có 01 đầu có gắn 01 đoạn ống dây và 01 tờ giấy màu trắng in hình con gà và chữ nước ngoài. Được niêm phong trong 01 thùng carton kích thước (31 x 18 x 13,5)cm, được đánh số IV, gửi giám định là pháo nổ pháo hoa nổ. Khi đốt phát ra tiếng nổ. Khối lượng là 1,4 kg.

Vật chứng: 01 xe mô tô biển số 86B3 -123.45, 01 xe mô tô biển số 86C2 138.42, 01 xe mô tô biển số 86B6 -298.69, một điện thoại di động iphone XS màu đen của Võ Duy P Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Võ Duy P.

Vật chứng còn thu giữ:

  • - Thùng ký hiệu số II tổng khối lượng 13,1 kg, có 13 hộp.
  • - Thùng ký hiệu số III gồm 190 viên, tổng khối lượng 1 kg 65.
  • - Thùng ký hiệu số IV gồm 290 khối hình tròn, khối lượng 1kg 35.

Tại Cáo trạng số 33/CT-VKS-HS ngày 22/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Võ Duy P về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Võ Duy P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” là đúng, không oan.

Trong phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về điều luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Duy P phạm tội Buôn bán hàng cấm.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Duy P mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 32 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo Võ Duy P số tiền từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Thùng ký hiệu số II tổng khối lượng 13,1 kg, có 13 hộp; Thùng ký hiệu số III gồm 190 viên, tổng khối lượng 1 kg 65; Thùng ký hiệu số IV gồm 290 khối hình tròn, khối lượng 1kg 35.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Ngoài ra không có tranh luận gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo đang nuôi con nhỏ, là lao động chính. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt những người làm chứng không có lý do, cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tuy nhiên việc vắng mặt những người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng những người làm chứng theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi và tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Võ Duy P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Thông qua mạng xã hội Võ Duy P quen biết Huy nhà tại thị trấn V, huyện Đ (không rõ nhân thân lai lịch), vào ngày 07/11/2023, H3 đặt mua pháo nổ từ P thì được P đồng ý. Sau khi khi đặt và có pháo nổ thông qua mạng xã hội, P liên lạc với H3, sau khi thoả thuận số lượng pháo, giá cả, H3 đồng ý đặt mua của Võ Duy P 15 (mười lăm) bánh pháo bông và 05 (năm) bịch pháo banh với tổng số tiền là 14.950.000 đồng (Mười bốn triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng), phương thức giao nhận pháo trực tiếp, địa điểm thị trấn V, huyện Đ, khi nhận hàng sẽ thanh toán tiền. Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 14 tháng 11 năm 2023 tại quán C thuộc khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, khi Võ Duy P có hành vi chuẩn bị bán trái phép 18,35 kg pháo nổ thì bị bắt quả, đây là hàng cấm buôn bán, cho nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi buôn bán 18,35 kg pháo nổ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm tàng trữ, cấm sử dụng, cấm buôn bán, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tiềm ẩn nhiều rủi ro, cháy nổ, gây ô nhiễm, lãng phí. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm buôn bán và việc buôn bán pháo nổ là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Nên cần xem xét hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo nhằm để răn đe giáo dục bị cáo thành người biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bản thân bị cáo đang nuôi con nhỏ (sinh năm 2023), ngày 14/11/2023 ngoài việc bị thu giữ số lượng pháo nổ tại quán cà phê 2001 khi bị bắt quả tang bị cáo đã tự nguyện khai báo ra lượng pháo nổ mà bị cáo mang theo đang để tại nhà nghĩ H để chuẩn bị bán, đây là tình tiết “Đầu thú”. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xác hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, mục đích buôn bán pháo nổ của bị cáo là vụ lợi, bị cáo làm nghề sửa xe có thu nhập nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về vật chứng: Đối với số lượng pháo còn lại sau giám định được đựng tại thùng ký hiệu số II tổng khối lượng 13,1 kg, có 13 hộp; Thùng ký hiệu số III gồm 190 viên, tổng khối lượng 1 kg 65; Thùng ký hiệu số IV gồm 290 khối hình tròn, khối lượng 1kg 35 là vật cấm buôn bán, cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô biển số 86B3 -123.45, 01 xe mô tô biển số 86C2 138.42, 01 xe mô tô biển số 86B6 -298.69, một điện thoại di động iphone XS màu đen đã được cơ quan cảnh sát điều tra xử lý trong quá trình điều tra, nên không xem xét.

[7] Đối với hành vi của Nguyễn Lê Anh Q, Nguyễn Trọng H đi cùng bị cáo Võ Duy P, nhưng không biết mục đích P đi bán pháo nổ, cũng không biết pháo mà bị cáo P bán là pháo nổ nên Cơ quan cảnh sát điều tra không khởi tố là có căn cứ. Đối với người tên H3 cần tiếp tục điều tra, làm rõ, nếu có căn cử xử lý theo quy định.

[8] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong điều tra, truy tố:

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Võ Duy P, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 khoản 4 Điều 190 điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 65 điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a khoản 2 Điều 106 khoản 2 Điều 135 khoản 2 Điều 136 các Điều 293, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

  1. Tuyên bố: Võ Duy P phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

    Phạt: Võ Duy P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/6/2024).

    Giao Võ Duy P cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Phạt bổ sung Võ Duy P số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung vào công quỹ Nhà nước.

  3. Về vật chứng:

    Tịch thu, tiêu hủy: Thùng ký hiệu số II tổng khối lượng 13,1 kg, có 13 hộp; Thùng ký hiệu số III gồm 190 viên, tổng khối lượng 1 kg 65; Thùng ký hiệu số IV gồm 290 khối hình tròn, khối lượng 1kg 35. (Hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/3/2024).

  4. Về án phí:

    Võ Duy P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Linh;
  • - CQTHAHS - Công an huyện Đức Linh;
  • - Sở Tư pháp Bình thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh (khi có hiệu lực);
  • - Ủy ban nhân dân phường Đức Long, TP Phan Thiết (Thay T/b);
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Duy Phương-Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger