|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13/5/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giáp Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Hồng Văn
Bà Trần Thị Nguyệt
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 393/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QÐST-DS ngày 06/5/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 (có mặt)
HKTT: Thôn X, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986 (vắng mặt)
HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 21/9/2023, biên bản lấy lời khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn trình bày:
Về tình cảm vợ chồng: Ngày 11/06/2008, chị và anh Nguyễn Văn T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và cùng thống nhất đi đến việc kết hôn. Sau khi kết hôn chị về nhà anh T1 ở cùng gia đình anh T1. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc cùng nuôi dạy con và làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Do kinh tế khó khăn, năm 2017 chị đi lao động tại Đài Loan đến tháng 6/2023 chị về ở hẳn tại Việt Nam. Anh, chị đã ly thân từ năm 2017 đến nay do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung hay xảy ra cãi vã, to tiếng với nhau. Anh T1 hay đánh đập, chửi bới xúc phạm chị, không chăm lo cho gia đình. Khoảng cách đây hơn 01 năm anh T1 vào Cần Thơ làm lái xe và có gây tai nạn giao thông, bị Tòa án huyện C, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm 6 tháng tù. Hiện tại anh T1 đang chấp hành án tại Đội 1, khu I, phân trại số 1, Trại giam T6, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Đến nay vợ chồng chị đã chấm dứt hoàn toàn mọi quan hệ về tình cảm và kinh tế.
Nay vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 người con chung là Nguyễn Văn S, sinh ngày 27/4/2009 và cháu Nguyễn Văn T2, sinh ngày 18/7/2016. Hiện cháu S đang học trường THCS N1 ở xã L, huyện T; C tiểu học X, xã L, T, Bắc Ninh. Công việc hiện tại chị làm về xây dựng tại địa phương, thu nhập 10 triệu đồng/01 tháng, thỏa thuận miệng với chủ lao động, không có hợp đồng lao động. Hiện hai con đang ở với chị, vợ chồng ly hôn, chị nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc hai con.
Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị T không đề nghị giải quyết.
Về tài chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Nguyễn Văn T1:
Anh T1 có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, hiện đang chấp hành án tại Đội 1, khu I, phân trại số 1, Trại giam T6, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Anh T1 đã được Tòa án thông báo, tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh T1 vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa và có lời trình bày không đồng ý ly hôn, vì anh T1 còn tình cảm với chị T, đề nghị được nuôi hai con là cháu S và cháu T2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, chị T chấp hành các quy định của pháp luật, anh T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273, điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cháu Nguyễn Văn S, sinh ngày 27/4/2009 và cháu Nguyễn Văn T2, sinh ngày 18/7/2016.
Cấp dưỡng nuôi con chị T không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nêm không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị giải quyết về ly hôn và con chung với anh Nguyễn Văn T1 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh T1 là bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh T1 vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt anh T1.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Nguyễn Văn T1 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 11 tháng 6 năm 2008, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.
Tại biên bản xác minh đối với địa phương ngày 10/5/2024 và trình bày của chị T đã cho thấy cuộc sống của vợ chồng chị T và anh T1 mâu thuẫn từ lâu, gia đình hai bên có biết nhưng hòa giải không thành. Hiện tại anh T1 đang đi chấp hành án tại Trại giam T6, huyện T, tỉnh Long An.
Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do gữa chị và anh T1 không có tiếng nói chung, hay cãi vã nhau, anh T1 hay chửi, đánh chị, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa chị và anh T1 đến nay không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Tòa án đã tiến hành buổi hòa giải nhưng anh T1 vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Mặc dù anh T1 có lời trình bày không đồng ý ly hôn do còn tình cảm và vợ chồng không mâu thuẫn, nhưng qua xác minh tại chính quyền địa phương, qua trình bày của chị T, các cháu T2 và cháu S, mẹ đẻ chị T là bà Trịnh Thị L cho thấy giữa chị T và anh T1 đã có mâu thuẫn từ lâu, trong quá trình chung sống nhiều lần xảy ra cãi vã, to tiếng, chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở Bắc Ninh ở. Anh T1 hiện đang chấp hành án tại Long An. Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án chị T vẫn kiên quyết đề nghị được ly hôn anh T1.
Vì vậy xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T1 và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung cháu Nguyễn Văn S, sinh ngày 27/4/2009 và cháu Nguyễn Văn T2, sinh ngày 18/7/2016. Hiện tại cháu T2 và cháu S đang ở cùng với chị T tại Bắc Ninh. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng 02 cháu. Hiện tại chị làm công việc về xây dựng thu nhập 10 triệu/01 tháng, có đủ điều kiện nuôi con.
Như vậy, về điều kiện chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con của chị T là đủ điều kiện, hiện tại hai cháu đang ở cùng chị T và do chị trực tiếp chăm sóc, giáo dục, chị có công việc, thu nhập, chỗ ăn ở ổn định.
Anh T1 có ý kiến nguyện vọng được nuôi hai con. Tuy nhiên, xét thấy anh T1 hiện đang chấp hành án, không có công việc, thu nhập ổn định, do vậy không đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con. Hơn nữa các con đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ là chị T.
Xét thấy: Yêu cầu, nguyện vọng của chị T là chính đáng và có đủ điều kiện nuôi con nên cần giao cho chị T được trực tiếp nuôi con. Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn anh T1 được quyền thăm nom con chung, chị T không được cản trở anh T1 thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Đ a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Nguyễn Văn S, sinh ngày 27/4/2009 và cháu Nguyễn Văn T2, sinh ngày 18/7/2016. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn T1 được quyền thăm nom con chung, chị Nguyễn Thị T không được cản trở anh Nguyễn Văn T1 thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam ngày 26/10/2023 theo biên lai thu số 0007881.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Thị Loan |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ giữa T-T1
