|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày 13-5-2024 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông K’Đào và ông Đào Duy Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXX-TA ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-DS ngày 25/4/2024 của Tòa án huyện D giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P; sinh năm 1999. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. -
- Bị đơn: Anh Đỗ Văn T; sinh năm 1993. Vắng mặt.
Địa chỉ: Số G, thôn I, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Nguyễn Thị P trình bày như sau:
Về hôn nhân, chị và anh Đỗ Văn T chung có đăng ký kết hôn ngày 10/01/2018 tại UBND xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng cùng chung sống tại xã H. Đến khoản năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn do khác biệt về lối sống, một phần nguyên nhân mâu thuẫn là do khó khăn về kinh tế. Từ cuối năm 2020 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Chị P về huyện L sinh sống cùng với bố mẹ, anh T ở lại xã H nuôi con. Hiện nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh Đỗ Văn T. Về nuôi con chung, vợ chồng có 01 con chung tên Đỗ Thế Đ; sinh ngày 16/12/2017. Từ khi ly thân thì con chung sống chung với anh T. Khi ly hôn, chị yêu cầu giao con chung cho anh Đỗ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, vợ chồng không có nợ chung. Tài sản chung không có, Tài sản riêng tự quản lý. Vợ chồng không có thỏa thuận gì về chế độ tài sản chung. Khi ly hôn không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Chứng cứ chứng minh là Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con.
Bị đơn, anh Đỗ văn T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập và các Thông báo, Quyết định của tòa án, tuy nhiên không đến làm việc nên Tòa án không ghi được ý kiến trình bày.
Do anh Đỗ Văn T không đến Tòa làm việc, chị chị P có đơn không yêu cầu hòa giải vì vậy Tòa án đã lập biên bản không hòa giải được, tiến hành họp công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả họp công khai chứng cứ cho các đương sự theo quy định.
Tại phiên Tòa chị Nguyễn Thị P trình bày:
Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu. Vào khoản tháng 9/2021, chi đã làm đơn xin ly hôn rồi, tuy nhiên chị cũng muốn tạo điều kiện để vợ chồng đoàn tụ nên đã rút lại đơn khởi kiện, Tòa án đã đình chỉ giải quyết. Hiện nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, không thể hàn gắn nên tiếp tục xin ly hôn. Một phần nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn là do anh T không tôn trọng vợ con, đã có lần đánh chị P vì mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày. Từ khi ly thân vào năm 2020 thì con chung ở với anh Đỗ Văn T, cháu hoàn toàn khỏe mạnh, được nuôi dạy tốt, hiện đang học tại trường tiểu học H1. Nguyện vọng của cháu cũng muốn được ở với anh Đỗ Văn T. Hiện nay sức khỏe của chị tốt, không có thai nghén gì cả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung tranh chấp. Đề nghị căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Bị đơn có nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng, tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định.
[2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa có mặt chị Nguyễn Thị P có mặt, vắng mặt anh Đỗ Văn T lần thứ hai không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.
[3] Nội dung tranh chấp.
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Đỗ Văn T sống chung có đăng ký kết hôn ngày 10/01/2018 tại UBND xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng thuê nhà sống chung tại gia đình bố mẹ chồng. Đến khoản đầu năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn khác biệt về lối sống, anh T, không chăm lo cuộc sống gia đình, vợ chồng có đánh chửi nhau. Một phần nguyên nhân mâu thuẫn là do khó khăn về kinh tế. Từ cuối năm 2020 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quý trọng, lo lắng cho cuộc sống chung. Cả hai cũng không có phương án và ý định trở về đoàn tụ. Khi Tòa án tổ chức hòa giải, anh Đỗ Văn T cũng không quan tâm, không đến làm việc, nội dung này cho thấy ý thức bỏ mặc, không mong muốn đoàn tụ của anh T. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết cho chị Nguyễn Thị P và anh Đỗ Văn T được ly hôn là phù hợp.
[3.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Đỗ Thế Đ; sinh ngày 16/12/2017. Từ khi vợ chồng ly thân thì anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến nay. Xét điều kiện hoàn cảnh kinh tế của các bên và nguyện vọng của đương sự và của con chung. Để đảm bảo sự phát triển bình thường cho con nhỏ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các con chung. Khi Tòa án giải quyết ly hôn cần giao con chung cho anh Đỗ văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
[3.3] Về phần tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí xin ly hôn là đúng quy định.
[5] Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147 điểm b khoản 2 Điều 227; 235 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Đỗ Văn T được ly hôn.
-
Về nuôi con chung: Giao con chung tên Đỗ Thế Đ; sinh ngày 16/12/2017 cho anh Đỗ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về phần tài: Không đề cập giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị P phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí xin ly hôn. Chị Nguyễn Thị P đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0005666 ngày 21/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị P có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đỗ Văn T vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
CÁC HỘI THẨM NÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NTP-ĐVT xin ly hôn
