Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỐNG NHẤT

TỈNH ĐỒNG NAI

 

Bản án số: 33/2024/DS-ST

Ngày: 12-9-2024

V/v “Kiện đòi quyền sử dụng đất bị lấn

chiếm và yêu cầu tháo dỡ công trình

xây dựng trên đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Phạm Thị Thanh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Trung
Ông Nguyễn Văn Lộc

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất ghi biên bản phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2023, về việc “Kiện đòi quyền sử dụng đất bị lấn chiếm và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-DS ngày 23/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Nhạc L, sinh năm 1962.
  2. Địa chỉ: Đ, ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  3. Bị đơn: Ông Tạ Văn T, sinh năm 1992.
  4. Địa chỉ: 2, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Mỹ P, sinh năm 1994;
  6. Địa chỉ: 2, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Ông L, ông T, bà P có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Nhạc L trình bày:

Vào năm 2014 ông có nhận chuyển nhượng Quyền sử dụng đất có diện tích 330m² thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14 của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị K tại Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số 2313 ngày 16/5/2014 với giá chuyển nhượng là 330.000.000đồng. Thửa đất trên được cấp quyền sử dụng tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL141895 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị K ngày 30/6/2008 thay đổi chỉnh lý cấp cho ông vào ngày 06/10/2014.

Sau khi nhận chuyển nhượng ông vẫn sử dụng ổn định cho đến nay. Tuy nhiên, đến năm 2020 khi gia đình ông T xây nhà có lấn sang thửa đất của ông khoảng 11.8 m², phần diện tích lấn chiếm này có hình tứ giác 1 cạnh phía Bắc có chiều dài khoảng 8.5m giáp thửa đất nhà ông Tạ Văn T, 1 cạnh phía Nam dài khoảng 8.5m, 1 cạnh phía Đông dài khoảng 1.8m giáp thửa đất số 11 tờ bản đồ số 14 và 1 cạnh phía Tây có chiều dài khoảng 1m giáp gia đình bà T1 là thửa đất số 495 tờ bản đồ số 14. Toàn bộ diện tích lấn chiếm ông T đã đổ móng và xây hàng rào. Ông đã nhiều lần yêu cầu gia đình ông T trả lại phần đất lấn chiếm nhưng không có kết quả.

Tại đơn khởi kiện ngày 27/3/2023, ông L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai giải quyết: Buộc gia đình ông Tạ Văn T phải phải tháo dỡ công trình được xây dựng trên đất và trả lại phần đất bị lấn chiếm trái phép có diện tích 11.8 m² thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ địa chính số 11 tại ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Trong quá trình giải quyết vụ án và sau khi tiến hành kiểm tra hiện trạng ông Lưu k xác định được gia đình ông T lấn chiếm có diện tích bao nhiêu nên đề nghị Toà án xác định ranh giới của hai thửa đất số 100 tờ bản đồ số 33 và thửa đất số 14, tờ bản đồ số 11 qua đó xác định phần diện tích nhà ông T lấn chiếm của ông. Sau khi kiểm tra hiện trạng, ông L thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu ông T và gia đình tháo dỡ công trình lấn chiếm và trả lại cho ông phần đất bị lấn chiếm có diện tích 0.5 m² thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ địa chính số 11 xã G. Tại phiên tòa ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc gia đình ông T trả lại diện tích đất bị lấn chiếm là 0.5 m².

Về chi phí tố tụng ông L đã nộp tạm ứng và yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai và lời trình bày tại phiên toà bị đơn ông Tạ Văn T trình bày:

Ông là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất số 100, tờ bản đồ số 33 tại xã G, huyện T, được cấp Giấy chứng nhận CU680297 ngày 24/3/2020. Về nguồn gốc diện tích đất 762,0m tại thửa đất số 100, tờ bản đồ địa chính số 33 tại xã G, huyện T do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông Vũ Y và bà Trịnh Thị T2 cuối năm 2018. Sau khi nhận chuyển nhượng Quyền sử dụng thửa đất trên thì vợ chồng ông đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đúng tên Tạ Văn TTrần Thị Mỹ P ngày 24/3/2020. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì vợ chồng ông đã được các bên gồm ông N, bà Đ (là chủ giáp ranh đất với ông Y), ông Y, bà N1, là chủ giáp ranh đất sát cạnh đất của ông L và ông trực tiếp chỉ ranh và cắm cọc bằng cây gỗ để xác định vị trí diện tích ranh giới thửa đất các bên chuyển nhượng đồng thời xác định các bên không tranh chấp. Vợ chồng ông đã nhận đất từ khi nhận chuyển nhượng nhưng không làm thủ tục sang tên mà để đất trống rau đến đầu năm 2020 mới tiến hành đổ đất, trồng cỏ nuôi bò trên hết phần diện tích đó. Đến năm 2022 thì vợ chồng ông mới tiến hành xây dựng hàng rào để xác định ranh mốc của diện tích đất. Tại thời điểm này thì ông Nguyễn Nhạc L mới có ý kiến cho rằng vợ chồng ông lấn chiếm đất nên hai bên xảy ra tranh chấp. Qua kiểm tra hiện trạng thể hiện theo bản vẽ số 1758 ngày 04/7/2024 gia đình ông đã lấn 0.5m² đất sang đất của nhà ông L thì gia đình ông đồng ý sẽ đập bỏ phần công trình xây dựng trên đất và trả lại 0.5m² diện tích đất đã lấn chiếm cho ông L.

Nay ông L khởi kiện yêu cầu gia đình ông tháo dỡ công trình lấn chiếm và trả lại cho ông phần đất bị lấn chiếm có diện tích 0.5 m2 thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ địa chính số 11 xã G thì ông đồng ý và đây cũng là ý kiến của ông khi hòa giải tại địa phương. Tuy nhiê, tại thời điểm đó ông L cho rằng gia đình ông lấn diện tích lơn hơn nên ông mới không đồng ý trả đất. Tại Phiên tòa, ông xác định ông sử dụng đất lấn thửa 14, tờ 11 của ông L diện tích đất bao nhiêu theo biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 04/7/2024 thì sẽ trả lại cho ông L bấy nhiêu, gia đình ông chỉ sử dụng đúng phần đất đã được nhà nước cấp sổ.

Về chi phí tố tụng ông đề nghị tòa án giải quyết theo pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Mỹ P trình bày:

P thống nhất với lời trình bày của ông T. Thửa đất số 100, tờ bản đồ địa chính số 33 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đúng tên Tạ Văn TTrần Thị Mỹ P ngày 24/3/2020. Kể từ thời điểm nhận chuyển nhượng đến nay gia đình bà vẫn sử dụng ổn định và không tranh chấp với ai. Nay ông L khởi kiện yêu cầu gia đình bà phải di dời, tháo dỡ công trình được xây dựng trên đất và trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích 0.5 m² thì bà đồng ý. Bà xác định gia đình bà chỉ sử dụng đúng phần đất đã được nhà nước cấp quyền sử dụng.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng về cơ bản thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, đã xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách tham gia tố tụng và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, về thẩm quyền thụ lý vụ án, về thời hiệu khởi kiện, tiến hành thu thập chứng cứ đầy đủ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và gửi các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát nhân dân huyện đúng thời hạn theo quy định.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đảm bảo sự vô tư, khách quan giải quyết vụ án, không có trường hợp thay đổi người tiến hành tố tụng theo Điều 52 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thủ tục phiên tòa được Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ, đúng quy định trình tự về phiên tòa sơ thẩm.

* Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Buộc ông T, bà P tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và trả lại 0.5m² đất đã lấn chiếm tại thửa đất số 11 tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại xã G cho ông L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Đây là tranh chấp liên quan đến QSDĐ và diện tích đất tranh chấp tọa lạc tại xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tranh chấp về quyền sử dụng đất không áp dụng thời hiệu.

[1.3] Về quan hệ pháp luật, tư cách đượng sự, áp dụng pháp luật:

  • - Về quan hệ pháp luật: Ông L khởi kiện yêu cầu gia đình ông T tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm nên quan hệ pháp luật được xác định là “Kiện đòi quyền sử dụng đất bị lấn chiếm và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”.
  • - Về tư cách tham gia tố tụng: Xác định ông Nguyễn Nhạc L là nguyên đơn; ông Tạ Văn T là bị đơn; Bà Trần Thị Mỹ P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Về áp dụng pháp luật: Phần diện tích đất tranh chấp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2008, 2020 hiện các bên không có ý kiến về việc cấp giấy nên áp dụng Luật Đất đai 2013 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Bộ luật dân sự 2015 giải quyết.
  • * Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Buộc gia đình ông Tạ Văn T tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và trả lại 0.5m² đất đã lấn chiếm tại thửa đất số 11 tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại xã G cho ông Nguyễn Nhạc L. Ông Tạ Văn T phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp và quá trình sử dụng đất:

Theo hồ sơ thể hiện thửa đất số 11 tờ bản đồ 14 tọa lạc tại xã G có nguồn gốc được tách từ các thửa 11,45,64 tờ bản đồ địa chính số 14 là tài sản chung của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị K. Căn cứ vào Trích lục bản đồ thửa đất ngày 04/9/2014 và đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/7/2009 và cập nhật biến động ngày 06/10/2014 của Văn phòng Đ1 – chi nhánh T3 đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 11, tờ BĐĐC số 14 có diện tích 330m² cho ông Nguyễn Nhạc L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL141895.

Thửa đất số 100, tờ bản đồ 33 toạ lạc tại xã G, huyện T có nguồn gốc là tài sản chung của ông Vũ Y và bà Trịnh Thị T2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CR307589 ngày 17/10/2019. Căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất được chứng thực ngày 07/3/2020, Trích lục bản đồ thửa đất và đơn đăng ký biến động đất đai ngày 11/3/2020 của ông Tạ Văn T thửa đất trên đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số CU680297 cho ông Tạ Văn TTrần Thị Mỹ P ngày 24/3/2020.

Ông Nguyễn Nhạc L, ông Tạ Văn T, bà Trần Thị Mỹ P đã nhận được Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và không thắc mắc khiếu nại gì về việc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, không khiếu nại về diện tích đất và sơ đồ thửa đất.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện trả lại đất bị lấn chiếm của nguyên đơn:

Các bên đều thừa nhận nguồn gốc các thửa đất mình đang sử dụng. Thửa đất số 11, tờ BĐĐC số 14 có diện tích 330m² được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Nhạc L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL141895 ngày 06/10/2014. Thửa đất số 100, tờ bản đồ số 33 toạ lạc tại xã G, huyện T được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho cho ông Tạ Văn TTrần Thị Mỹ P theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số CU680297 ngày 24/3/2020.

Gia đình ông L, ông T, bà P tại thời điểm đó vẽ, lập bản đồ đều không khiếu nại về diện tích đất và sơ đồ thửa đất và đều sử dụng ổn định từ khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đều xác định không khiếu nại hay tranh chấp gì về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện TSở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ.

Như vậy, cần xác định ông Nguyễn Nhạc L, ông Tạ Văn T và bà Trần Thị Mỹ P đều thừa nhận diện tích mình đang sử dụng đúng Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất nên Hội đồng xét xử thấy, cơ sở pháp lý để xác định diện tích đất tranh chấp và ranh giới đất của các bên phải căn cứ vào Trích lục và đo chỉnh lý các thửa đất, đơn đăng ký biến động đất, tài sản và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông LSở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ cấp cho ông T, bà P.

Theo hồ sơ thể hiện thửa đất số 11, tờ BĐĐC số 14 có diện tích 330m² được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông L theo AL141895 ngày 06/10/2014, mục đích cấp giấy là trồng lúa. Thửa đất số 100, tờ bản đồ số 33 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số CU680297 cho ông Tạ Văn TTrần Thị Mỹ P ngày 24/3/2020, mục đích cấp giấy là đất LUC.

Tại đơn khởi kiện ông L cho rằng gia đình ông T đã lấn chiếm của ông diện tích 11.8 m² tuy nhiên căn cứ vào các đơn đề nghị của ông L đối với kết quả kiểm tra hiện trạng sử dụng đất trên thực tế của ông L và ông T tại Trích lục, đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 3723/2023 ngày 13/12/2023 và ý kiến của ông Nguyễn Nhạc L tại Biên bản làm việc ngày 17/6/2024, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ thẩm định ngày 24/6/2024, Biên bản hoà giải ngày 15/8/2024 đều thể hiện nội dung ông Lưu k xác định được gia đình ông T lấn chiếm có diện tích bao nhiêu nên đề nghị Toà án xác định ranh giới của hai thửa đất số 100 tờ bản đồ số 33 và thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14 qua đó xác định phần diện tích nhà ông T lấn chiếm của Gia đình ông. Do vậy, căn cứ vào Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và kết quả lồng ghép từ Trích lục, đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 1758/2024 ngày 04/7/2024 do Văn phòng Đ1, chi nhánh T3 lập có căn cứ xác định diện tích ông T đang sử dụng có 0.5 m² lấn sang thửa 11, tờ bản đồ địa chính số 14 tại Gia Kiệm, cụ thể diện tích lấn sang thửa đất 11 là 0.5 m² giới hạn bởi các cột mốc a, 4, 3, a toàn bộ phần đất này có công trình xây dựng là móng gạch, vách tôn, cột sắt.

Xét thấy: Tại Trích lục và đo chỉnh lý các thửa đất, đơn đăng ký biến động đất, tài sản và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông LSở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ cấp cho ông T, bà P chính là cơ sở pháp lý để xác định diện tích đất và ranh giới đất của các gia đình. Do đó, việc ông L khởi kiện yêu cầu ông T, bà P trả lại diện tích đất bị lấn chiếm là có cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên Căn cứ vào kết quả lồng ghép từ Trích lục, đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 1758/2024 ngày 04/7/2024 đã xác định gia đình ông T đang sử dụng lấn sang nhà ông là 0.5m². Nên ông L đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông T phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và trả lại diện tích đất đã lấn cho ông là 0.5m², việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên chấp nhận. Tại phiên tòa, ông T cho rằng ông đang sử dụng đúng diện tích đất được cấp Giấy nhưng qua đối chiếu Kết quả sơ đồ hiện trạng đã xác định gia đình ông đang sử dụng đất có diện tích 762.5 m² nhiều hơn so với diện tích được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 0.5m² và phần diện tích này đang lấn sang nhà ông L (thửa 11) nên ông đồng ý trả lại ông L. Đây là sự tự nguyện của bị đơn không bị ai ep buộc nên ghi nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu buộc tháo dỡ công trình đã lấn chiếm xét thấy:

Căn cứ vào Trích lục, đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 1758/2024 ngày 04/7/2024 do Văn phòng Đ1, chi nhánh T3 lập ghi nhận phần công trình xây dựng ông T lấn chiếm của thửa 11 là tường hạch ký hiệu “T” nên không phải là công trình kiên cố cùng với ý kiến ddioofng ý tháo dỡ công trình trên đất đã lấn chiếm trả lại hiện trạng đất đã được cấp theo Giấy chứng nhận của ông T nên có thể tháo dỡ được. Tại phiên tòa, ông T, bà P đồng ý tháo dỡ công trình đang xây dựng trên đất đã lấn sang nhà ông L có diện tích khoảng 0.5m² và không yêu cầu tòa án giải quyết đối với tài sản trên đất nên ghi nhận.

Từ nhận định trên, căn cứ các Điều 164, 166, 175, 221, 579 Bộ luật Dân sự; khoản 24 Điều 3, Điều 100; Điều 202; Điều 203 Luật Đất đai, buộc ông Tạ Văn T và bà Trần Thị Mỹ P phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và trả lại 0.5m² diện tích đất đã lấn thửa 11, tờ bản đồ địa chính số 14 tại Gia Kiệm, huyện T cho ông Nguyễn Nhạc L.

[3] Về chi phí tố tụng: Ông T bị buộc trả lại phần diện tích đất lấn chiếm nên phải chịu chi phí tố tụng theo quy định. Hồ sơ thể hiện tổng chi tến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định đất tranh chấp là 18.414.000đồng, (hiện ông L đã nộp tạm ứng toàn bộ chi phí trên) nên ông T phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông L.

[4] Về án phí: Ông T phải chịu án phí theo quy định; Ông L được miễn án phí theo quy định.

Nhận định của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 164, 166, 175, 221, 579 Bộ luật Dân sự; khoản 24 Điều 3, Điều 100; Điều 202; Điều 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Nhạc L.
  2. Buộc ông Tạ Văn T phải tháo dỡ toàn công trình xây dựng trên đất và trả cho ông Nguyễn Nhạc L phần đất có diện tích 0.5m² thuộc thửa đất số 11 tờ bản đồ địa chính số 14 toạ lạc tại Tổ D, ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (giới hạn bởi các cột mốc a, 4, 3, a) trên sơ đồ kèm theo Bản án. (Kèm theo Bản án là Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất số 1758/2024 do Văn phòng Đ1, chi nhánh T3 lập ngày 04/7/2024).

  3. Về chi phí tố tụng: Ông Tạ Văn T phải thanh toán lại cho cho ông Nguyễn Nhạc L số tiền 18.414.000đồng (Mười tám triệu, bốn trăm mười bốn nghìn đồng).
  4. Về án phí DSST: Ông Tạ Văn T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí. Ông Nguyễn Nhạc L được miễn án phí theo quy định.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) tính từ tuyên bán.

Nơi nhận:

THẨM

- VKSND H.TN;

phiên tòa

- Chi cục THADS H.TN;

- TAND tỉnh Đồng Nai;

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

- Các Đ/s;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

Thẩm phán - Chủ tọa

Phạm Thị Thanh Xuân

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dânThẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI về kiện đòi quyền sử dụng đất bị lấn chiếm và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất

  • Số bản án: 33/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi quyền sử dụng đất bị lấn chiếm và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP RANH QSD ĐÂT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger