|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-8-2024 Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Ngô Phiên;
2. Bà Nguyễn Thị Cương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 12/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2024/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 08/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1984 - (Có đơn xin vắng mặt)
- Nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 - (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, bản ghi ý kiến chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Trước khi kết hôn, chị H, anh T có tự do tìm hiểu. Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn ngày 25/12/2002 tại UBND xã B (nay là thị trấn B), huyên Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H, anh T về chung sống ở tổ dân phố S, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang sinh sống. Trong quá trình chung sống anh T không lo cho gia đình mà còn mải chơi, một mình chị H phải gánh vác kinh tế và chăm lo cho các con. Vợ chồng sống cùng nhà nhưng lạnh nhạt, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy H1, sinh ngày 22/7/2003 và cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 04/11/2008. Cháu H1 hiện khỏe mạnh, phát triển bình thường, trưởng thành và đã lập gia đình; Cháu T1 hiện khỏe mạnh, phát triển bình thường, đang đi học và ở cùng chị. Sau khi ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi cháu T1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung: Đối với cháu H1, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nuôi cháu vì cháu đã trưởng thành và lập gia đình.
Về tài sản chung, công nợ chung, nghĩa vụ chung về tài sản: không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, đã xuống gia đình lấy ý kiến của anh T nhiều lần và công an viên gọi điện thoại cho anh T nhưng anh T từ chối làm việc với Tòa án nên anh Nguyễn Văn T không có văn bản ghi nhận ý kiến trong hồ sơ vụ án.
* Tại biên bản xác minh ngày 21/5/2024 và ngày 14/6/2024 chính quyền địa phương thị trấn B cung cấp như sau: Chị H, anh T sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã B (nay là thị trấn B), huyện Y, tỉnh Bắc Giang ngày 25/12/2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Tổ dân phố S, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trong cuộc sống vợ chồng chị H, anh T kín tiếng và có mâu thuẫn xích mích vợ chồng bình thường, địa phương chưa phải can thiệp hay hòa giải bao giờ. Thời gian gần đây chị H, anh T có mâu thuẫn nhưng địa phương không rõ nguyên nhân mâu thuẫn nhưng vợ chồng chị H, anh T lạnh nhạt và không nói chuyện với nhau. Vợ chồng chị H, anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 2003 đã trưởng thành và cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 04/11/2008 hiện đang đi học, phát triển bình thường. Nay chị H xin ly hôn, yêu cầu giải quyết nuôi con chung, đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết. Anh T2 có hộ khẩu và đang sinh sống ở địa phương, bố đẻ anh T2 ốm nên anh T2 thường xuyên đi trông bố dưới bệnh viện, đến ngày 06/6/2024 bố anh T2 chết và đưa về nhà mai táng, từ đó đến nay anh T2 ở nhà và làm việc tự do quanh địa phương. Chị H, anh T2 không thuộc đối tượng hộ nghèo, không thuộc đối tượng hộ cận nghèo, đối chiếu các quy định định miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án thì chị H, anh T2 đều không thuộc đối tượng.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/5/2024 đối với cháu Nguyễn Văn T1 cho biết như sau: Cháu là con bố Nguyễn Văn T và mẹ Nguyễn Thị Thanh H. Hiện nay cháu lớp 10 Trường cao đẳng N ở thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trong cuộc sống hàng ngày bố mẹ cháu ở cùng nhà nhưng không còn nói chuyện với nhau, không ngủ cùng nhau, việc ai người đó làm. Nay bố, mẹ cháu có đơn yêu cầu ly hôn với bố cháu thì cháu mong Tòa án hòa giải để bố mẹ cháu về với nhau. Nếu không được thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Nguyễn Thị Thanh H.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- Áp dụng khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 BLTTDS;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ.
Áp dụng a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 01/11/2008 cho chị Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H chịu tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật..
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H xin ly hôn anh T; Chị H có địa chỉ cư trú tại huyện Y nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H nhưng chị H vắng mặt lần thứ hai không có lí do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị B.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh T có đăng ký kết hôn ngày 25/12/2002 tại UBND xã B (nay là thị trấn B), huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Qua lời khai của chị H, lời khai của cháu T1 là con trai của anh T, chị H, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương có căn cứ khẳng định: Vợ chồng chị H, anh T xảy ra mâu thuẫn do anh T không chịu lo cho gia đình, mải chơi, một mình chị H phải gánh vác và chăm lo cho các con, vợ chồng chị H, anh T mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng dù sống cùng nhà nhưng lạnh nhạt và không còn nói chuyện với nhau nữa. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với anh T. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập anh T nhưng anh không đến, anh T đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh T từ chối làm việc với Tòa án, không có ý kiến trình bày về việc chị H xin yêu cầu ly hôn nên chị H xin ly hôn anh T là có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về việc nuôi con: Vợ chồng có 2 con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy H1, sinh ngày 22/7/2003 và cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 04/11/2008. Hiện cháu H1 đã trưởng thành, khỏe mạnh, phát triển bình thường, đã lập gia đình còn cháu T1 đang sống cùng bố mẹ ở tổ dân phố S, thị trấn B. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi cháu T1, không yêu cầu giải quyết nuôi cháu H1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần xuống lấy ý kiến và yêu cầu anh T lên Tòa án làm việc nhưng anh T từ chối làm việc với Tòa án. Tòa án lấy ý kiến cháu T1 thì cháu có nguyện vọng ở cùng mẹ là chị Nguyễn Thị Thanh H. Do vậy, để không ảnh hưởng đến quá trình sinh sống, học tập và phát triển của cháu T1, cần chấp nhận đề nghị của chị H là giao cháu T1 cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản, công nợ, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H chịu tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh H: Xử cho chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
-
Về việc nuôi con:
Cháu Nguyễn Thị Thúy H1, sinh ngày 22/7/2003 đã trưởng thành, khỏe mạnh, phát triển bình thường và đã lập gia đình, không đặt ra xem xét giải quyết.
Giao cho chị Nguyễn Thị Thanh H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 01/11/2008. Vấn đề cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở họ thực hiện quyền này.
- Về tài sản, công nợ, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
Về tiền án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004865 ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế thu. Xác nhận chị Nguyễn Thị Thanh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Hồng Thảo |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh T, yêu cầu giải quyết nuôi con chung
