Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11 - 9 - 2024

“V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành và bà Vũ Thị Thanh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/5/2024 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1992. Nơi thường trú: tổ C, khu Y, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Vũ Văn N, sinh năm 1991. Nơi thường trú: khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Trần Thị D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D với anh Vũ Văn N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ngày 28 tháng 11 năm 2022. Sau khi kết hôn cả hai chung sống tại khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tiếp tục chung sống hòa hợp. Cả hai đã sống ly thân. Đến nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh N.

- Về con chung: Chị D với anh Vũ Văn N có 01 (Một) người con chung là: Vũ Tuấn M, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2023. Khi ly hôn, chị D đề nghị Tòa án giao cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); không yêu cầu anh Vũ Văn N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, Thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định của pháp luật cho anh Vũ Văn N, tuy nhiên anh Vũ Văn N không có mặt tại các phiên họp và các buổi làm việc vắng mặt không có lý do; ông Vũ Mạnh C – bố đẻ anh N nhận và thông báo lại cho anh N, anh N có nói với ông C là anh đang đi làm nên không thể có mặt theo thông báo của Tòa án và đề nghị Tòa án cứ giải quyết theo nội dung chị D yêu cầu.

Quá trình xác minh tại khu T ngày 02 tháng 8 năm 2024, chính quyền địa phương cho biết: Chị Trần Thị D và anh Vũ Văn N đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ngày 28 tháng 11 năm 2022. Sau khi kết hôn cả hai chung sống tại khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống cả hai không yêu cầu khu hòa giải mâu thuẫn, khu chỉ được biết vợ chồng xảy ra bất đồng quan điểm sống và đến nay không còn chung sống cùng nhau. Nay chị D yêu cầu giải quyết ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị Trần Thị D và anh Vũ Văn N có 01 (Một) con chung là: Vũ Tuấn M, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2023. Trường hợp cả hai ly hôn đề nghị Tòa án xem xét điều kiện của hai bên để giải quyết giao nuôi con cho phù hợp. Về tài sản chung và vay nợ chung khu không nắm được.

Quá trình xác minh ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại nhà anh Vũ Văn N, ông Vũ Mạnh C – bố đẻ anh N cho biết: Chị D và anh N là con dâu và con trai ông. Cả hai kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ngày 28 tháng 11 năm 2022. Sau khi kết hôn cả hai chung sống ở nhà ông tại khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống cả hai có xảy ra mâu thuẫn về vấn đề kinh tế nên chị D đã về nhà mẹ đẻ sinh sống. Chị D và anh N có 01 con chung là Vũ Tuấn M, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2023, hiện cháu đang ở với mẹ. Các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, Thông báo công khai chứng cứ và hòa giải ... ông C nhận và thông báo lại cho anh N. Anh N có nói là anh đang đi làm nên không thể có mặt theo thông báo của Tòa án và Tòa án cứ giải quyết theo nội dung chị D yêu cầu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị D. Xử: chị Trần Thị D được ly hôn anh Vũ Văn N; về con chung: giao cho chị Trần Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Vũ Tuấn M, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2023 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Vũ Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và vay nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết; về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị D khởi kiện về việc ly hôn với anh Vũ Văn N và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn anh Vũ Văn N có nơi cư trú tại khu T, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị D vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt); bị đơn anh Vũ Văn N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có ý do. Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn đảm bảo đúng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Vũ Văn N có đăng ký kết hôn từ năm 2022 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị Trần Thị D và anh Vũ Văn N phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân, trong quá trình sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau; anh Vũ Văn N có quan điểm đồng ý ly hôn với chị Trần Thị D. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Trần Thị D và anh Vũ Văn N đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử ghi nhận về quan điểm ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Vũ Văn N, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị D đối với anh Vũ Văn N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Trần Thị D và anh Vũ Văn N có 01 (Một) người con chung là: Vũ Tuấn M, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2023. Chị Trần Thị D có quan điểm trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, anh Vũ Văn N không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, con chung là Vũ Tuấn M, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2023 đang còn nhỏ ở với chị Trần Thị D từ bé và từ khi sinh ra cho đến nay, đến nay chị Trần Thị D vẫn đang nuôi dưỡng và chăm sóc; anh N có quan điểm đồng ý để chị Trần Thị D nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung của chị Trần Thị D và anh Vũ Văn N; giao con chung là Vũ Tuấn M, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2023, cho chị Trần Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Vũ Văn N không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết anh Vũ Văn N có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung và vay nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D được ly hôn anh Vũ Văn N.

2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Vũ Tuấn M, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2023 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Vũ Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau ly hôn, anh Vũ Văn N không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đồng thời không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị D đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003880 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, chị Trần Thị D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh
  • - VKSND thị xã Quảng Yên.
  • - Chi cục THADS thị xã Quảng Yên.
  • - UBND phường Đông Mai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh (Nơi ĐKKH)
  • - Các đương sự.
  • - Lưu án văn + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phúc Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Dịu Chị Trần Thị Dịu được ly hôn anh Vũ Văn Nam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger